Khoa học quản lý 2010-03-24 02:02:13

Trong kế hoạch khoa học và công nghệ (KHCN) của tỉnh Hải Dương năm 2009 có 59 dự án, đề tài (gọi chung là công trình KHCN) được đưa vào kế hoạch, với tổng kinh phí được đầu tư là 15.981,8 triệu đồng, thu hồi 3.897,0 triệu đồng, chiếm 24,38% (trong đó: thu hồi về quỹ phát triển khoa học 12,0 triệu đồng, thu hồi thông qua ghi tăng tài sản của các đơn vị: 3.465,544 triệu đồng); có 56/59 công trình KHCN được thực hiện, chiếm 94,92%. Dưới đây là tóm tắt kết quả đạt được trong các lĩnh vực:

1. Lĩnh vực Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Gồm 05 dự án và 22 đề tài, 01 nghiệp vụ hoạt động KHCN, có 02 công trình KHCN (7,1%) không thực hiện. Tổng kinh phí đầu tư là 6.692,243 triệu đồng, chiếm 41,15% tổng kinh phí đầu tư cho các công trình KHCN; thu hồi về quỹ phát triển KHCN 12,0 triệu đồng, chiếm 0,18%; kinh phí của Trung ương đầu tư là 400,0 triệu đồng, chiếm 5,97%.
Về cây lúa:
- Dự án lúa của tỉnh đã duy trì thành công dòng lúa bố, mẹ 2 dòng VL45 (kháng bạc lá tốt), 3 dòng Bắc ưu 253 (kháng bạc lá, chịu được ngập úng 13-15 ngày) trong vụ xuân, vụ mùa năm 2009 để có được hạt giống sản xuất lúa lai F1 vào năm 2010. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên giống cây trồng tỉnh đã phối hợp với Viện nghiên cứu lúa Trường Đại học Nông nghiệp lai tạo, chọn dòng thành công giống lúa lai 3 dòng Bắc ưu 253 và lúa thuần Bắc thơm số 7 có chứa gen kháng bạc lá. Giống lúa Bắc ưu 253 được thử nghiệm trong vụ mùa 2009 cho thấy giống thích nghi với những vùng vàn trũng không có khả năng điều tiết nước, chống bệnh bạc lá cao, cho năng suất 70-80 tạ/ha, cao hơn so với các giống lúa cùng trà từ 25-35 tạ/ha và sẽ mở rộng diện tích gieo cấy giống lúa này từ vụ mùa năm 2010 để thay thế dần các giống lúa cũ của địa phương năng suất thấp như Mộc tuyền, U17.
- Đã khảo nghiệm, sản xuất thử và kết luận được 4 giống lúa lai có năng suất, chất lượng bổ sung vào cơ cấu mùa vụ của tỉnh, là các giống lúa: SYN6, N.ưu 69, Nghi Hương 2308, Bắc ưu 025. Các giống lúa triển vọng có thể bổ sung vào cơ cấu mùa vụ vào những năm tiếp theo, gồm có 2 giống lúa thuần năng suất cao (ĐB13, SH2), 4 giống lúa thuần chất lượng (LT2, TL6, ĐS1, N46).
- Đã xây dựng mô hình mở rộng sản xuất trình diễn thâm canh lúa lai theo quy trình kỹ thuật của Trung Quốc để đạt năng suất tối đa tại 11 huyện trong tỉnh: quy mô thực hiện 44,0 ha/2 vụ; năng suất thực thu của mô hình đạt 8,4-12,8 tấn/ha, cao hơn so víi nông dân làm theo tập quán cũ tõ 2,0-5,0 tÊn/ha.
Kết quả của các công trình KHCN về cây lúa đã góp phần đưa diện tích lúa lai và lúa chất lượng của tỉnh đạt tỷ lệ cao trong những năm gần đây: năm 2009 đạt 24,7%, dự kiến năm 2010 là 35%, đưa năng suất lúa lai đại trà tăng từ 1,5-2.0 tấn/ha so với lúa thuần sản xuất đại trà.
Về rau màu và cây công nghiệp:
- Đã kết luận được 3 giống lạc mới (LĐN01, L23, L24) có năng suất cao hơn giống đối chứng từ 25-35%, phẩm chất tốt để đưa vào cơ cấu các vùng trồng lạc của tỉnh.
- Xây dựng mô hình trồng ngô đông mật độ cao theo phương pháp làm đất tối thiểu và đặt bầu chỉnh tán lá thực hiện tại huyện Thanh Miện với quy mô 20,0 ha. Mô hình đem lại hiệu quả kinh tế cao (trừ chi phí lãi từ 1,0 - 1,5 triệu đồng/sào), tận dụng được rơm, rạ trên đồng ruộng phủ lên gốc cây ngô hạn chế cỏ mọc và làm phân bón cho vụ sau, góp phần giảm thiểu ô nhiễm khói đốt rơm, rạ, giảm chi phí sản xuất từ 4,0-4,5 triệu đồng/ha (46-50%), nên đã được nông dân áp dụng ra diện rộng trong vụ đông năm 2009 với diện tích 390 ha.
- Một số mô hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật (TBKT) vào sản xuất đạt kết quả tốt làm điểm trình diễn để mọi người học tập, áp dụng rộng vào sản xuất như: sản xuất giống cà chua nhóm quả lớn, quả nhỏ; nhân giống và sản xuất khoai tây hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao; mô hình sản xuất giống ổi trắng số 1; phòng trừ bệnh thối nhũn hành, tỏi; áp dụng các giống chè của Trung Quốc có năng suất, chất lượng cao để khôi phục thương hiệu chè Thanh Mai, Chí Linh; sản xuất hoa chất lượng cao quy mô công nghiệp, v.v...
Về chăn nuôi và thuỷ sản:
- Do kết quả thực hiện các công trình KHCN về thuỷ sản của những năm 2006-2008 mà diện tích nuôi cá rô phi đơn tính của tỉnh năm 2009 đươc mở rộng, chiếm trên 30%, tăng gấp 6 lần so với năm 2005, năng suất bình quân đạt 8,0 tấn/ha. Để đáp ứng yêu cầu giống cá rô phi đơn tính cho sản xuất đại trà ngày càng tăng, Trung tâm Quốc gia Giống thuỷ sản nước ngọt miền Bắc và Xí nghiệp Giống cây trồng-thuỷ sản Tứ Kỳ đã tiếp thu và chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính 21 ngày tuổi và công nghệ sản xuất cá giống lớn (sau 21 ngày tuổi) cho gần 100 hộ nông dân trong tỉnh để sản xuất cá giống rô phi đơn tính phục vụ sản xuất đại trà.
- Đã sản xuất thử và kết luận được 2 giống cá bổ sung vào đối tượng nuôi thuỷ sản của tỉnh: cá Lăng Chấm và cá rô phi dòng sô đan; các đề tài nuôi thử cá trắm đen, nuôi thử vịt Supper M3, ... cũng đạt kết quả tốt.
2. Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và công nghệ thông tin.
Gồm 01 dự án, 02 đề án, 11 đề tài và 01 nghiệp vụ KHCN. Tổng kinh phí thực hiện năm 2009 là: 5.509,9 triệu đồng, trong đó thu hồi thông qua ghi tăng tài sản là 2.148,4 triệu đồng.
Về công nghiệp và xây dựng:
- Nghiên cứu xây dựng mô hình mẫu quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn tỉnh Hải Dương: Đã xác định được tiêu chí cho quy hoạch điểm dân cư nông thôn và xây dựng được quy hoạch cho 10 xã (năm 2009 có 5 xã) là các xã đặc trưng cho các vùng sinh thái khác nhau trong tỉnh, như: xã phát triển làng nghề; xã phát triển chăn nuôi, trồng trọt; xã có di tích lịch sử, văn hoá, cảnh quan; xã trung du miền núi; xã phát triển thương mại, dịch vụ; xã còn giữ được được nhiều nét đặc trưng của làng cổ vv... ,5 xã thực hiện trong năm 2008 đã được phê duyệt quy hoạch là các xã: Cẩm Vũ (huyện Cẩm Giàng); Việt Hồng (huyện Thanh Hà); An Lạc (huyện Chí Linh), Minh Đức (huyện Tứ Kỳ); Duy Tân (huyện Kinh Môn); 5 xã thực hiện quy hoạch năm 2009 đang trình UBND các huyện phê duyệt. Kết quả đề tài là 10 mô hình mẫu quy hoạch các điểm dân cư, là căn cứ để nhân rộng ra trong toàn tỉnh từ năm 2010.
- Đã điều tra, khảo sát hiện trạng nghệ nhân, thợ lành nghề trong các làng nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Từ kết quả điều tra đã đề xuất giải pháp, xây dựng tiêu chí, trình tự, thủ tục xét chọn, phong tặng và một số chính sách khuyến khích đối với người được tặng danh hiệu "Nghệ nhân, thợ giỏi tỉnh Hải Dương" để trình UBND tỉnh phê duyệt.
- Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO: đến nay đã có trên 70 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000, ISO 10.000, TQM, HCECP, ...; 31 sở, ban, ngành, UBND huyện, thành phố áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCV ISO 9001:2000.
- Hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp: đã có 477 nhãn hiệu được cấp giấy chứng nhận, 74 kiểu dáng công nghiệp và 6 sáng chế, giải pháp hữu ích, 1 chỉ dẫn địa lý được cấp văn bằng bảo hộ. Ngoài ra một số đề tài khác cũng đã đạt được mục tiêu nội dung đề ra như: điều tra khảo sát và đề xuất giải pháp để tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh; sử dụng năng lượng tiết kiệm và có hiệu quả trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2009-2013, v.v...
Về công nghệ thông tin:
Các công trình KHCN lĩnh vực công nghệ thông tin năm 2009 tập trung vào các nội dung nhằm tăng cường tiềm lực và thiết thực phục vụ công tác quản lý: đã tăng cường cho các sở, ngành được 03 máy chủ, 42 máy vi tính, 15 máy tính xách tay, các thiết bị mạng không dây ...; xây dựng và ứng dụng các phần mềm quản lý, như: quản trị mạng, quản lý lý lịch tư pháp; ứng dụng công nghệ GIS xây dựng bản đồ số trong quản lý bưu chính, viễn thông; xây dựng mới 03 mạng không dây tại các sở: Công Thương, Nội vụ, Y tế và xây dựng trang thông tin điện tử thông tin và truyền thông của Sở Thông tin và Truyền thông; duy trì hoạt động của trang thông tin doanh nghiệp và sản phẩm của tỉnh, trang thông tin khoa học và công nghệ tỉnh Hải Dương trên Internet phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, thông tin về kết quả hoat động KHCN của tỉnh thuộc các lĩnh vực ....
3. Lĩnh vực y tế và tài nguyên-môi trường
Gồm 02 dự án và 06 đề tài. Tổng kính phí thực hiện là 1.569,53 triệu đồng, trong đó: thu hồi thông qua ghi tăng tài sản đơn vị là 1.078,03 triệu đồng.
Về y tế:
Đã điều tra, đánh giá được hiện trạng cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và tình hình khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi tại 263 trạm y tế xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hải Dương, trên cơ sở đó Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và phân tuyến; xây dựng mô hình để thực nghiệm giải pháp can thiệp ở 3 vùng sinh thái trên địa bàn tỉnh; xuất bản 500 cuốn Sổ tay phác đồ xử trí các bệnh nhi khoa thường gặp. Các đề tài khác thực hiện đến năm 2010 nhưng năm 2009 đã đạt được mục tiêu, nội dung của đề tài như: Nghiên cứu đánh giá tác dụng điều trị của bài thuốc BVT1 trong điều trị bệnh trĩ nội độ I, II do Bệnh viện y học cổ truyền tỉnh chủ trì thực hiện; Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị bệnh viêm quanh răng bằng bài thuốc Đông nam dược ĐMT-09 do Bệnh viện quân y 7 thực hiện.
Về Tài nguyên - Môi trường:
- Dự án áp dụng kỹ thuật tiến bộ xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại các bệnh viện tuyến huyện trong tỉnh: Năm 2009 đã được triển khai tại 04 bệnh viện chuyên khoa cấp tỉnh, gồm các bệnh viện: Tâm thần kinh, Y học cổ truyền, Điều dưỡng và phục hồi chức năng và Bệnh viện Đa khoa khu vực Nhị Chiểu huyện Kinh Môn. Kết quả từ năm 2002 đến nay đã áp dụng cho hệ thống bể xử lý nước thải của 12 bệnh viện đa khoa các huyện, thành phố trong tỉnh và 4 bệnh viện nêu trên. Các hệ thống xử lý nước thải cho phép xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép với chi phí thấp, phù hợp với điều kiện tài chính của các bệnh viện dưới 120 giường bệnh.
- Đã xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ sinh học BIOF xử lý đáy ao nuôi trồng thuỷ sản đạt kết quả tốt được nông dân chấp nhận. Từ kết quả này Công ty cổ phần công nghệ sinh học Hà Nội đã chuyển giao công nghệ cho một số hộ nông dân của các huyện Nam Sách, Gia Lộc, Tứ Kỳ để sản xuất chế phẩm BIOF từ nguồn phân thải hữu cơ chăn nuôi của gia đình để xử lý đáy ao nuôi thuỷ sản. Kết quả theo dõi và phân tích các chỉ tiêu cho thấy chế phẩm BIOF các hộ gia đình sản xuất ra đảm bảo chất lượng, cải thiện được môi trường nước, tăng hàm lượng ô xy hoà tan trong nước, giảm khí H2S, NH3 trong bùn, màu sắc của cá sáng hơn, năng suất cá tăng hơn đối chứng từ 8-11%.
- Đề tài xây dựng mô hình xử lý rơm, rạ làm phân bón hữu cơ phục vụ sản xuất luá an toàn, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường trên địa bàn huyện Bình Giang thực hiện trong 2 năm 2009-2010, nhưng năm 2009 đã đạt kết quả tốt. Rơm, rạ được xử lý bằng chế phẩm sinh học sau 30 ngày đã có thể làm phân hữu cơ bón ruộng. Công nghệ đơn giản, dễ làm, chi phí thấp được nông dân ở các địa bàn triển khai đề tài hoan nghênh, chấp nhận. Đề tài sẽ được mở rộng vào năm 2010.
Đã tiến hành điều tra hệ sinh thái tự nhiên khu vực đầm hồ xã An Lạc huyện Chí Linh và xây dựng quy hoạch bảo vệ, phát triển hệ sinh thái, môi trường và di tích lịch sử phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Bước đầu thực hiện theo quy hoạch, Ban chủ nhiệm đề tài đã xây dựng và đưa vào áp dụng tại địa phương quy ước của xã về "bảo vệ môi trường, bảo vệ hệ sinh thái khu vực đầm hồ An Lạc và khu di tích Đền Cao" để cho mọi người thực hiện. Đồng thời tiến hành trồng bổ sung hàng nghìn gốc tre, keo, mây, ổi, ... để từng bước khôi phục hệ sinh thái của đầm hồ An Lạc.
4. Lĩnh vực xã hội nhân văn
Triển khai thực hiện 01 đề án, 10 đề tài, tổng kinh phí thực hiện là 2.335,0 triệu đồng.
- Đã tiến hành điều tra hiện trạng và đề xuất các giải pháp: nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân lao động trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp của tỉnh; đấu tranh chống tội phạm phi truyền thống trên địa bàn tỉnh; giúp lực lượng công an tham gia giải quyết khiếu kiện đông người, góp phần giữ vững ổn định chính trị trong tình hình hiện nay; nâng cao chất lượng dạy môn hoá học thông qua dạy bài tập hoá học cấp Trung học cơ sở tỉnh Hải Dương.
- Đã nghiên cứu xây dựng mô hình xã hội học tập trên địa bàn tỉnh Hải Dương để làm cơ sở triển khai diện rộng trên phạm vi toàn tỉnh; Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu chủ yếu đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu xây dựng Hải Dương trở thành tỉnh công nghiệp vào các năm 2015 và 2020; Nghiên cứu, sưu tầm tư liệu và sáng tác xây dựng bộ tranh hoành tráng về lịch sử tỉnh Hải Dương; Nghiên cứu và Biên tập Địa chí Thành phố Hải Dương; Sưu tầm, biên soạn và xuất bản biên niên sử tỉnh Hải Dương giai đoạn 1930- 2009 (phục vụ đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ Hải Dương lần thứ 15), v.v...
Hoàng Phương
Bài đăng trên tạp chí KHCN&MT số 1/2010

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912