Khoa học quản lý 2010-12-06 01:21:00

Tỉnh Hải Dương được bao bọc bởi một hệ thống các con sông lớn như sông Thái Bình, sông Thương, sông Luộc, sông Kinh Thầy ... ,là nguồn cung cấp nước ngọt lớn và sạch đảm bảo thuận lợi cho nuôi thuỷ sản. Những năm gần đây ngành chăn nuôi thuỷ sản phát triển với tốc độ cao, giá trị sản xuất ngành thuỷ sản tăng trung bình 11,75 %/năm. Diện tích, năng suất và sản lượng nuôi thuỷ sản không ngừng tăng lên qua các năm: diện tích 8.800 ha, năng suất 3,8 tấn/ha, sản lượng 33.000 tấn năm 2006 tăng lên 9.972 ha, 5,1 tấn/ha và 50.080 tấn. Nuôi thuỷ sản đã trở thành ngành sản xuất quan trọng trong nông nghiệp góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế ở các địa phương trong tỉnh.

BIOP
Ao nuôi cá được xử lý bằng chế phẩm BIOF tại xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ
Nuôi thâm canh thuỷ sản với mật độ cao trong nhiều năm đã làm môi trường ao nuôi ngày càng bị ô nhiễm. Qua phân tích mẫu nước và mẫu bùn ao nuôi tại 3 huyện Nam Sách, Gia Lộc, Tứ Kỳ cho thấy: hầu hết ao nuôi cá đều bị ô nhiễm nặng, nước đục, hàm lượng oxy hoà tan trong nước thấp, các khí độc có nồng độ cao đã gây ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng cá. hàm lượng khí H2S quá cao đạt tới 0,38-0,4 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn cho phép 0,08 - 0,1mg/l (tiêu chuẩn < 0,3 mg/l); chỉ tiêu BOD5 (nhu cầu ô xy hoá sinh học) có mẫu lên đến 14,3 mg/l, vượt quá ngưỡng cho phép 4,0-4,7 mg/l; vi sinh vật hiếu khí có mật độ cao và đạt tới 6,1x106 CFU/l, cao hơn tiêu chuẩn cho phép 1,6x102 CFU/l là những yếu tố thuận lợi cho các loài vi sinh vật gây bệnh cho cá phát triển mạnh.
Từ thực tế trên,nhằm cải thiện môi trường ao nuôi, nâng cao năng suất, hiệu quả nuôi thuỷ sản, năm 2008 - 2009 Công ty cổ phần công nghệ sinh học Hà Nội dó được UBND tỉnh Hải Dương giao cho phối hợp với nhà máy phân vi sinh Việt - Séc thực hiện đề tài: "Hoàn thiện công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học xử lý đáy ao nuôi trồng thuỷ sản (BIOF) từ nguồn phân thải chăn nuôi tại tỉnh Hải Dương" để giúp các hộ nông dân ở một số địa phương trong tỉnh xử lý ô nhiễm môi trường và tận dụng nguồn thải từ chăn nuôi sản xuất chế phẩm sinh học xử lý ô nhiễm môi trường đáy ao nuôi cá. Trong nam 2008 đề tài đã sản xuất được 10 phân chế phẩm vi sinh BIOF tại nhà máy phân vi sinh Việt Sec để xử lý cho 10,0 ha ao nuôi cá rô phi tại 3 xã: Gia Hoà (huyện Gia Lộc), Cộng Hoà (huyện Nam Sách, Hưng Đạo (huyenẹ Tứ Kỳ). Kết quả đã cải thiện được môi trường nước và lớp bùn đáy ao, tạo điều kiện thuận lợi cho cá sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất cao, lãi cao hơn đối chứng không sử dụng chế phẩm từ 17,3 – 27,4 triệu đồng/ha.
Qua thực tế ứng dụng chế phẩm sinh học xử lý đáy ao nuôi thuỷ sản trong năm 2008 cho thấy: nếu sử dụng chế phẩm sinh học BIOF được sản xuất tại nhà máy phân vi sinh Việt - Séc có giá thành cao sẽ làm tăng chi phí sản xuất, đồng thời không tận dụng được nguồn nguyên liệu và công lao động tại chỗ. Để hạ giá thành sản xuất chế phẩm và mở rộng mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi cá tại tỉnh Hải Dương, năm 2009 Công ty cổ phần công nghệ sinh học đã tiến hành chuyển giao công nghệ tự sản xuất chế phẩm sinh học BIOF cho 15 hộ gia đình tại 3 huyện Gia Lộc, Nam Sách và Tứ Kỳ theo phương pháp chuyển giao trực tiếp, gắn lý thuyết với hướng dẫn thực hành tại chỗ đối với quy trình sản xuất 100 kg chế phẩm, theo các bước:
+ Bước 1, chuẩn bị nguyên liệu hữu cơ và tiến hành ủ
* Nguyên liệu: 60 kg phân gà, 60 kg phân lợn, 10 kg than bùn, 10 kg vôi bột, các nguyên liệu này trước khi phối trộn phải được xử lý sơ bộ: phơi khô, loại bỏ các tạp chất. Chuẩn bị 3 kg men phân giải hữu cơ, 2 kg men vi sinh vật hữu ích đã được sản xuất tại Công ty cổ phần Công nghệ sinh học (có thể pha loãng men phân giải và men VSV hữu ích vào nước theo tỉ lệ 1:3 để dễ sử dụng). Sau đó trộn đều các nguyên liệu với nhau và tiến hành ủ.
* Cách ủ: Đưa nguyên liệu vào nơi cần ủ, trộn đều các nguyện liệu và lấy 3 kg men phân giải hữu cơ (hoặc pha thành 9 lít môi trường VSV) sau đó cứ rải 1 lớp nguyên liệu dầy 10 - 15 cm lại rắc 1 lớp men phân giải hữu cơ và cứ tiến hành như vậy sao cho đến khi hết nguyên liệu và men phân giải đã chuẩn bị, tiếp tục vun cao thành đống ủ và phủ bạt kín khắp đống ủ. Thời gian ủ men vi sinh vật phân giải hữu cơ trong 1 tháng thì thu được là sản phẩm phân nền hữu cơ.
+ Bước 2, phối trộn phân vô cơ, men vi sinh vật hữu ích
* Chuẩn bị: 19 kg đạm ure, 12 kg supe lân, 5kg kali, 2 kg men vi sinh vật hữu ích.
* Từ phân nền hữu cơ đã thu được, rải 1 lớp phân nền, 1 lớp supe lân, 1 lớp đạm ure và 1 lớp men vi sinh vật hữu ích và tiến hành lặp lại như vậy cho hết đống nguyên liệu, sau đó trộn đều thì ta thu được chế phẩm sinh học BIOF.
+ Bước 3, bảo quản
Khi chế phẩm sản xuất ra nếu chưa sử dụng ngay thì cần phải được đưa vào nơi chứa có mái che, có nền bằng xi măng, có tường bao quanh để bảo vệ. Chế phẩm không được để trực tiếp trên sàn mà phải lót bạt hoặc kệ gỗ rồi mới xếp chế phẩm lên trên để chống ẩm, thời gian bảo quản của chế phẩm là từ 6 tháng (từ khi sản xuất đến khi đem sử dụng, không để quá 8 tháng).
Với phương pháp chuyển giao trực tiếp và cách làm đơn giản các hộ gia đình đã tiếp nhận được công nghệ nói trên và mỗi gia đình đã tự sản xuất được 100 kg chế phẩm sinh học BIOF để xử lý đáy ao nuôi cá của gia đình mình. Toàn bộ lượng chế phẩm sản xuất ra đã được các hộ nông dân ứng dụng xử lý đáy ao nuôi cá rô phi đơn tính tại gia đình. Kết quả cho thấy môi trường ao nuôi đã được cải thiện, cá sinh trưởng và phát triển tốt, trọng lượng cá khi thu hoạch trung bình đạt từ 609 - 660g/con, năng suất cá đạt từ 11-12 tấn/ha, tăng so với đối chứng từ 0,63 - 0,83 tấn/ha, lãi cao hơn đối chứng từ 10,62 - 14,92 triệu đồng/ha. Tuy vậy, với điều kiện sản xuất và khả năng tiếp nhận công nghệ của các hộ gia đình còn nhiều hạn chế, nguồn nguyên liệu đầu vào (phân chuồng, than bùn, ...) không ổn định đã làm ảnh hưởng đến chất lượng của chế phẩm. Qua phân tích tại Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Bắc cho thấy: một số chỉ tiêu chất lượng như vi sinh vật tổng số, hàm lượng NPK tổng số, hàm lượng hữu cơ của chế phẩm sản xuất tại hộ nông dân đều thấp hơn chế phẩm sinh học BIOF sản xuất tại nhà máy phân vi sinh Việt - Séc.
Mô hình chuyển giao công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học tại hộ gia đình thành công đã góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động nhàn rỗi tại địa phương. Trong những năm tới nếu mô hình này được mở rộng sẽ góp phần tận dụng nguồn phân thải chăn nuôi tại chỗ, làm giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trong các trang trại chăn nuôi tập trung và các trang trại nuôi trồng thủy sản.
Để mô hình được nhân rộng, Công ty cổ phần Công nghệ sinh học cần cung cấp men vi sinh gốc đảm bảo chất lượng, các ngành khoa học và công nghệ, nông nghiệp và phát triển nông thôn tiếp tục chỉ đạo các địa phương trong tỉnh mở rộng quy mô sản xuất và ứng dụng chế phẩm sinh học BIOF; các cơ quan truyền thông của tỉnh cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến rộng kết quả của mô hình trong toàn tỉnh để mọi người học tập và áp dụng.
KS Vũ Văn Tân
Bài đăng trên Tạp chí KHCN&MT số 5/2010

 

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912