Khoa học quản lý 2010-12-06 01:09:16

Bệnh răng miệng nói chung và bệnh viêm quanh răng nói riêng là những bệnh rất phổ biến trong cộng đồng. Năm 1986, Tổ chức y tế thế giới đã xếp bệnh răng miệng là tai hoạ thứ 3 của loài người sau bệnh ung thư và bệnh tim mạch. Ở Việt Nam số người mắc bệnh viêm quanh răng tương đối cao, ở trẻ em tuổi từ 6-8 chiếm 42,7%, lứa tuổi 12-14 chiếm 71,4%, ở người lớn tỷ lệ này chiếm đến 96,7%. Viêm quanh răng là bệnh phá huỷ tổ chức vùng quanh răng, các cấu trúc nâng đỡ và giữ răng trên cung hàm. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn tới tình trạng mất răng, ảnh hưởng đến tâm lý chức năng nhai, phát âm, thẩm mỹ sức khoẻ của con người.

vien_7
Trung tướng Lương Cường, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 3 trao Huân chương Quân công hạng Nhất cho Bệnh viện 7
Hiện nay việc điều trị viêm quanh răng chủ yếu là dùng thuốc tân dược như Rodogyl (thuốc uống), GelMrtrogyl Denta (thuốc bôi), Givalex (nước xúc miệng)..., đa số các thuốc này chỉ phù hợp với giai đoạn viêm cấp tính, không thể dùng kéo dài, lại có tác dụng phụ, chống chỉ định nên cần được khám, kê đơn, theo dõi của bác sĩ. Trong nhân dân có khá nhiều bài thuốc chữa viêm quanh răng, ít độc hại, giá thành thấp song các bài thuốc này chưa được đánh giá một cách khoa học, thuốc còn ở dạng tự pha chế, sản phẩm chưa tiện lợi cho người dùng nên chưa được phổ biến rộng rãi. Từ thực tế nêu trên năm 2009 UBND tỉnh Hải Dương cho phép Bệnh viện 7 tiến hành thực hiện đề tài "Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị bệnh viêm quanh răng bằng bài thuốc Đông nam dược ĐMT-09 (kế thừa và phát triển từ bài thuốc cổ Cố xỉ cao và Sát nha cao)", với mục tiêu như sau:
Nghiên cứu hoàn thiện bài thuốc nam dược ĐMT-09 từ bài thuốc cổ phương để điều trị bệnh viêm quanh răng; đánh giá kết quả điều trị bệnh viêm quanh răng của bài thuốc nam dược ĐMT-09, so sánh với nhóm điều trị thuốc tân dược; đánh giá hiệu quả kinh tế của đề tài.
Kết quả nghiên cứu:
Bệnh viện 7 đã ký hợp đồng với tại Công ty cổ phần dược, vật tư y tế Hải Dương tiến hành sản xuất thử nghiệm vào tháng 8 năm 2009, quy mô sản xuất 3.000ml thuốc cao lỏng và 3.000ml nước xúc miệng, sản phẩm này được gửi lên Trường Đại học Dược Hà Nội để kiểm nghiệm độ an toàn thông qua việc thử độc tính cấp LD50 và độc tính an toàn bán trường diễn, kết quả cao lỏng và nước xúc miệng cho độ an toàn cao. Đơn vị tiến hành xây dựng tiêu chuẩn bài thuốc ĐMT-09 để sản xuất thuốc ở quy mô lớn hơn và nội dung xây dựng tiêu chuẩn cơ sở là các yêu cầu kỹ thuật về tính chất lý hoá, độ trong, độ đồng nhất, tỷ trọng, thể tích, định tính, độ nhiễm khuẩn, trên cơ sở đó Công ty cổ phần dược vật tư y tế Hải Dương tiến hành sản xuất thuốc trên quy mô công nghiệp, thời gian sản xuất vào tháng 10 năm 2009, quy mô sản xuất 800 lọ thuốc cao lỏng loại 15ml và 450 chai nước súc miệng loại 240ml, các loại thuốc được sản xuất đảm bảo độ an toàn, đủ số lượng, chất lượng, đạt tiêu chuẩn cơ sở, đóng gói theo đúng quy cách đề ra.
- Áp dụng thuốc cao lỏng và nước xúc miệng ĐMT-09 điều trị cho 50 bệnh nhân bị bệnh viêm quanh răng (nhóm 1), trong đó bệnh nhân nam chiếm 50% và nữ chiếm 50% và 10 bệnh nhân đối chứng chữa bằng thuốc tân dược (nhóm 2), trong đó bệnh nhân nam chiếm 40%, nữ chiếm 60%, bệnh nhân điều trị đều có lứa tuổi từ 20-45, lứa tuổi bị bệnh viêm quanh răng cao nhất từ 40-45 tuổi chiếm 68,3%, thời gian mắc bệnh của bệnh nhân chiếm cao nhất từ 3-5 năm chiếm 51,7%.
Lộ trình điều trị cho mỗi bệnh nhân là 15 ngày, bệnh nhân được lấy sạch cao răng, làm vệ sinh túi lợi bằng máy lấy cao siêu âm sau đó mới dùng thuốc, thuốc cao lỏng được bơm vào túi lợi bị viêm sau khi đã lấy sạch cao răng, ngày bơm 01 lần liên tục trong vòng 15 ngày. Nước súc miệng được dùng ngay sau khi vệ sinh răng miệng, ngậm thuốc trong vòng 2-3 phút rồi nhổ đi, sau đó để thuốc ngấm vào tổ chức lợi viêm 20-30 phút sau mới được ăn uống hoặc súc miệng bằng nước sạch, một ngày súc miệng 3 lần và liên tục trong 15 ngày.
Sau 15 ngày cho thấy:
+ Chỉ số thể hiện mức độ viêm lợi của bệnh nhân cả 2 nhóm đều giảm sau 2 tuần điều trị và tái khám sau 3 tháng, tỷ lệ độ 0 (khỏi bệnh) và độ 1 (giảm bệnh) của 2 nhóm đều tăng, tỷ lệ viêm quanh răng nặng (độ 2 và độ 3) đều giảm. Trong đó kết quả của nhóm 1 bệnh nhân khỏi chiếm 74%, nhóm 2 khỏi chỉ chiếm 50%.
+ Mức độ cải thiện độ lung lay răng của 2 nhóm nghiên cứu đều giảm, trong đó độ 0 (khỏi bệnh) tăng lên, độ 1 độ 2 (bệnh vừa và nặng) đều giảm đi (nhóm 1 độ 0 là 78%, nhóm 2 độ 0 là 60%) . Như vậy cao lỏng và nước xúc miệng ĐMT-09 có tác dụng làm tăng độ vững chắc của răng, thông qua việc làm giảm viêm lợi, giúp tổ chức lợi lành mạnh hơn, răng chắc hơn và giúp bệnh nhân ăn nhai được tốt hơn.
+ Mức độ giảm độ sâu túi lợi: độ sâu túi lợi càng lớn thể hiện mức độ viêm nhiễm vùng quanh răng càng nặng, nó thể hiện sự phá huỷ tổ chức lợi quanh răng, làm đứt các dây chằng quanh răng, làm tụt lợi, răng lung lay và nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn tới tình trạng mất răng sớm. Sau 15 ngày điều trị bằng bài thuốc ĐMT-09 bệnh nhân ở nhóm 1 độ sâu túi lợi đã giảm là 1,29mm rõ rệt hơn nhóm 2 là 0,89mm, độ sâu túi lợi giảm, đã phục hồi được các tổ chức mô quanh răng.
+ Chảy máu lợi là biểu hiện mức độ xung huyết, phá vỡ mao mạch lợi quanh răng, làm chảy máu ra vùng chân răng, tuỳ mức độ viêm lợi mà máu chảy khi thăm khám vào túi lợi hay chảy máu tự nhiên. Mức độ cải thiện chỉ số chảy máu lợi sau điều trị 15 ngày đã có biến chuyển tốt của bệnh nhân nhóm 1 là 74%, trung bình 18%, kém là 8%; nhóm 2 tốt là 50%, trung bình 30% và kém 20%. Mức độ xung huyết, phù nề lợi và chảy máu lợi của bệnh nhân được điều trị bằng bài thuốc ĐMT-09 đã giảm rõ rệt .
+ Mức độ tiêu xương ổ răng của bệnh nhân nhóm 1 biểu hiện ít bị tiêu xương hơn ở nhóm 2 thông qua hình ảnh chụp Xquang đánh giá mức độ tiêu xương ở ổ răng và mức làm đầy huyết hổng xương sau điều trị, kết quả sau điều trị cho thấy bệnh nhân ở nhóm 1 có biểu hiện phục hồi sự tiêu xương ổ răng tốt là 72%, trung bình là 20%, kém là 8%; nhóm 2 tốt là 50%, trung bình 40%, kém là 10%; đặc biệt việc phục hồi các mào xương ổ răng, vùng dây chằng quanh răng được phục hồi rõ rệt.
+ Mức độ biến đổi mô bệnh học ở nhóm 1 tốt là 74%, trung bình 20% và kém là 10%; nhóm 2 tốt là 50%, trung bình 30% và kém là 20%. Thuốc ĐMT-09 đã kích thích các tế bào biểu mô tái tạo, làm tăng sinh tế bào lợi, giảm tế bào viêm.
Kết quả điều trị được đánh giá đầy đủ trên kết quả lâm sàng và cận lâm sàng, 50 bệnh nhân của nhóm 1 sau 15 ngày điều trị bệnh nhân khỏi 76%, đỡ là 18% và không khỏi là 6%, trong khi đó nhóm 2 bệnh nhân khỏi chỉ có 50%, bệnh nhân đỡ 40% và bệnh nhân không khỏi là 10%. Như vậy kết quả điều trị của nhóm dùng thuốc nam dược ĐMT-09 tốt hơn nhóm bệnh nhân đối chứng dùng thuốc tân dược thể hiện qua sự cải thiện chỉ số lợi, chỉ số chảy máu lợi, độ lung lay răng, giảm độ sâu túi lợi, sự tiêu xương ổ răng và cải thiện về kết quả mô bệnh học. Đặc biệt trong suốt quá trình điều trị và theo dõi kết quả sau điều trị không thấy có phản ứng phụ nào xảy ra với bệnh nhân.
Bài thuốc ĐMT-09 đã kết thừa được những tinh hoa của bài thuốc cổ, bổ sung thêm các vị thuốc mới so với bài cổ phương làm tăng hiệu quả điều trị bệnh viêm quanh răng, bài thuốc đã có sự phát triển hiện đại hoá về cách bào chế sản xuất, thuốc đã được sản xuất bằng hệ thống thiết bị hiện đại và cho sản phẩm đóng lọ, đóng chai đảm bảo sự đồng đều về chất lượng, bảo quản được lâu dài, tiện lợi cho người sử dụng. Bài thuốc đã được kiểm nghiệm độ an toàn thông qua việc thử độc tính cấp LD50 và độc tính an toàn bán trường diễn tại Trường Đại học Dược Hà Nội cho kết quả an toàn. Phương pháp dùng thuốc đã được cải tiến thay vì bôi thuốc vào lợi, phương pháp mới của bài thuốc tiến hành bơm thuốc dưới dạng cao lỏng vào túi lợi, việc này đã giúp thuốc lưu giữ trong miệng được lâu hơn nâng cao hiệu quả của bài thuốc. Bài thuốc ĐMT-09 được sản xuất từ nam dược, nếu phát triển sẽ mở rộng diện tích trồng cây thuốc nam trong cả nước, giảm nhu cầu thuốc tân dược nhập ngoại, giá thành của bài thuốc cũng rẻ hơn thuốc tân dược và dễ sử dụng cho người bệnh.

Ths. Trần Thị Loan
Bài đăng trên Tạp chí KHCN&MT số 5/2010

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912