Khoa học quản lý 2011-05-17 09:30:47

Câu đối là một thể loại văn chương đặc sắc, một trò chơi trí tuệ tao nhã và độc đáo. Trên thế giới chỉ có bốn nước: Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên là có câu đối. Mỗi câu đối có hai vế từ ngữ hết sức cô đọng, từng chữ được nghiền ngẫm gọt giũa công phu và phải đối nhau cả ý và từ cũng như mọi khía cạnh xuất xứ của chữ nghĩa.

P1010519
Viết thư pháp là một trong những nét đẹp văn hóa ở Hải Dương. Ảnh Nguyễn Trọng
Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
Nhân tình bạc thế lại bôi vôi

Quả là tài! Cái xác của pháo đối với cái bạc của vôi nằm trong vẻn vẹn 14 từ mà diễn tả rõ nét thực trạng xã hội nước ta thời Pháp thuộc. Tại thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), nhân dịp trùng tu đền thờ, có một cụ già thách đối:
Thuý Kiều đi qua cầu, nhác thấy chàng Kim, lòng đã trọng.
Hàng vạn người có mặt không ai đối được. Mãi sau mới có một du khách đối là:
Trọng Thuỷ dòm vào nước, thoáng nhìn thấy Mỵ, đã rơi châu.
Cả hai vế đối thật tuyệt hay! Vế xướng thần tình ở cách chơi chữ. Kiều nghĩa là cầu, Kim Trọng là tên của một chàng trai (một nho sinh) lại được tách ra, từ Kim đứng một chỗ, từ Trọng đứng một chỗ để nói lên tình yêu chớm nở trong lòng Thuý Kiều đối với Kim Trọng. Vế đối còn đặc sắc hơn! Thủy nghĩa là nước, Mỵ Châu là tên một cô gái (nàng công chúa) lại được tách ra, từ Mỵ đứng một chỗ, từ Châu đứng một chỗ để diễn tả nỗi đau đớn tuyệt cùng trong lòng Trọng Thuỷ sau khi làm song quỷ kế tráo nỏ thần. Vế xướng nói đến một kiệt tác hay bậc nhất trong kho tàng văn chương Việt Nam, vế đối nói đến mối tình bi thương trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, lại hợp thực tế của địa phương (thành Cổ Loa chính là nơi diễn ra chuyện tình Trọng Thuỷ - Mỵ Châu ).
Xưa kia câu đối được viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm và viết theo bốn lối chữ: Triện (vuông), Lệ (nghiêng), Chân (rõ ràng) và Thảo (thoáng). Hình ảnh ông đồ ngồi viết câu đối trong các phiên chợ giáp tết là hình ảnh quen thuộc của xã hội Việt Nam ngày trước:
" Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua"

( "Ông đồ" – Vũ Đình Liên)
Nhiều bậc danh nhân hào kiệt ngay từ nhỏ đã có năng khiếu làm câu đối. Tại đầu làng kia có một ông thợ rèn hay chữ. Một hôm có cậu bé trạc mươi tuổi đi ngang đứng lại xem. Thấy cậu mang túi sách vở, biết là học trò, ông thợ rèn ra một vế đối:
Than trong lò, sắt trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi sắt.
Không ngờ chỉ trong giây lát, cậu bé đã đối lại:
Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi giành được tam khôi!
Cậu bé ấy chính là Lê Văn Hưu sau thi đỗ bảng nhãn trở thành nhà sử học đầu tiên của nước ta, tác giả bộ "Đại Việt sử ký" gồm 30 quyển!
Cụ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến là người viết nhiều câu đối nói về người dân lao động nghèo khổ. Trong đó, câu đối cụ viết cho vợ người thợ nhuộm khóc chồng được coi là tiêu biểu và cảm động nhất:
Thiếp kể từ lá thắm xe duyên, khi vận tía, lúc cơm đen, điều dại điều khôn nhờ bố đỏ.
Chàng ở dưới suối vàng nghĩ lại, vợ má hồng, con răng trắng, tím gan tím ruột với trời xanh.
Thực là tài tình! Câu đối có đến mười sắc màu của nghề thợ nhuộm, chia đều mỗi vế năm màu. Vế trên, "thắm, tía, đen, điều, đỏ". Vế dưới, "vàng, hồng, trắng, tím, xanh". Đặc biệt chữ "tím" được dùng một cách quá đắt có thể gọi là thần bút.
Ngày nay, câu đối thường viết bằng chữ quốc ngữ với nội dung ca ngợi Đảng, Bác Hồ, quê hương đất nước và đả phá những thói hư tật xấu. Đây là câu đối trong thời kỳ chống Pháp, dán ở cơ quan Hội Liên Việt:
Anh em ơi, kháng chiến đủ năm rồi, khắp đông tây nam bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh nòi giống Việt!
Trời đất nhẽ, đoàn kết thêm lớp nữa, xếp già trẻ vào một hội, làm cho nổi tiếng nước nhà Nam!
Câu đối toát lên khí thế hừng hực của cả nước ta sau một năm toàn quốc kháng chiến và kêu gọi toàn dân đoàn kết hơn nữa, nỗ lực hơn nữa để đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống xâm lược, bảo vệ đất nước, giống nòi. Câu đối dùng từ ngữ bình dị, dễ hiểu, phù hợp với trình độ của bộ đội và nhân dân ta lúc bấy giờ, làm cho "đông tây nam bắc", "già trẻ gái trai" thấy tự hào về lịch sử nước nhà mà thêm hăng hái tham gia kháng chiến.
Còn đây là câu đối ca ngợi công cuộc đổi mới hiện nay:
Đảng tài giỏi vững vàng, hoà nhập chẳng hoà tan, bền gan sắt vì dân chiến đấu.
Dân kiên trung dày dạn, tự cường không tự mãn, chắc lòng son tin Đảng tiến lên.
Thật tuyệt vời! Chỉ có 34 từ, tác giả đã khái quát được cả truyền thống anh hùng của Đảng và nhân dân ta "tài giỏi vững vàng", "kiên trung dày dạn" nêu rõ phương châm đường lối đối nội, đối ngoại của nhà nước ta ( hoà nhập mà không hoà tan, tự cường nhưng không tự mãn). Đồng thời, nói lên ý chí, quyết tâm của Đảng ta, của dân ta và mối quan hệ máu thịt của lòng dân ý Đảng!
Trần Kim Hạnh
Bài đăng trên Tạp chí KHCN&MT số 1/2011

 

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912