Khoa học và Công nghệ 2011-05-16 08:08:57

Trên địa bàn xã Hoàng Tiến, Thị xã Chí Linh có một khu đồi, xưa người ta gọi đồi chè nông trường, nhưng vài ba năm nay người ta lại đổi, gọi đồi na ông Thái. Đồi na ông Thái không phải là chuyện hư cấu kiểu truyền thuyết như bao tên gò đồi khác mà nó thực gắn tình với một cựu chiến binh, ông Đàm Văn Thái.

IMG_1857
Cựu chiến binh Đàm Quang Thái đi kiểm tra đồi na. Ảnh ĐH
Ông Đàm Văn Thái, nguyên trước đây là bộ đội thời chống Mỹ, đơn vị Trung đoàn 101 Trần Cao Vân nổi tiếng của sư 325 anh hùng, tham gia chiến đấu tại chiến trường B5, khu vực thành cổ Quảng Trị. Sau khi Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, ông chuyển ngành, học đại học ngành khoa học xã hội nhân văn, rồi công tác tại Thư viện tỉnh Quảng Ninh. Năm 2007, ông nghỉ hưu, trong điều kiện sức khoẻ thương tật 75% cộng với tuổi cao trông ông gầy, xanh tiều tuỵ. Ở vào trường hợp những người cao tuổi khác, cách tốt nhất là vui thú điền viên hoặc an cư dưỡng lão. Không ai bảo ông sẽ làm nên cơ đồ với việc kinh doanh nghề trồng trọt, một cái nghề mà ông chưa từng được học. Thế nhưng ông lại làm nên chuyện.
Về hưu, nghĩ ngồi lắm cũng buồn vì con cái đã trưởng thành và đều công tác xa, ông bàn với vợ (cũng là cán bộ hưu trí) làm kinh tế. Được sự đồng thuận của cụ bà, ông liên hệ, xin nhượng lại được một lô đất đồi rộng 2 ha, theo diện nhận khoán trồng cây lâu dài của Nông trường Chí Linh. Tại khu đất này, chủ cũ từng trồng cây lấy gỗ, vải thiều, một số cây na nhưng không hiệu quả. Cùng khu vực vào thời điểm ông đến những hộ xung quanh chỉ có trồng vải thiều hoặc cây lấy gỗ, chủ yếu là phi lao.
Có đất, ông bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh. Một trong những vấn đề trăn trở với ông là làm gì, trồng cây gì?
Trước hết ông lân la tìm hiểu các hộ trong khu vực. Qua tham khảo thực tế và qua tư vấn của một số chuyên gia trồng trọt, ông quyết định đầu tư vào trồng cây na.
Nói vậy, nhưng không dễ, khu đất của ông thực ra là một đồi cao, khó khăn về nguồn nước. Khó khăn thứ hai là thiếu kiến thức, kinh nghiệm làm vườn vì từ nhỏ đến khi lớn đi bộ đội rồi sau đó công tác nơi thành phố, súng đạn, sách vở thì quen chứ ông chưa hề trải nghiệm việc trồng trọt, nhất là với cây na.
Khao khát được làm việc, phát huy bản lĩnh bộ đội cụ Hồ, không ngại khó, ngại khổ, ông quyết khắc phục vượt qua. Không biết kỹ thuật, ông đi tìm thầy, tìm thợ, mở internet để "học mót" kỹ thuật trồng na rồi mạnh dạn thực hiện. Đầu tiên là thuê dọn cỏ dại và những cây gỗ " vô tích sự", tìm mua giống na tại các vườn ươm lân cận; rồi thuê đào giếng, mua phân bón, làm luống trồng, chăm bón. Tổng cộng cả cũ mới đã có gần 2000 cây na trong vườn được ông trồng. Vất vả được bù đắp. Vụ thu hoạch na đầu tiên, năm 2008 trừ chi thuê công trồng xới, phân bón, điện nước tưới, ... thuế nông nghiệp 500.000đ/vụ, ông thu lãi 70 triệu đồng.
Vụ na thứ 2, năm 2009 ông cho biết, trong diện tích 2ha, 2000 cây, trong đó 1000 cây đã cho thu hoạch. Mỗi cây to thu từ 150 - 200 quả, cây nhỏ 15- 20 quả; tính chung từ 30 quả/cây, trung bình 3 quả/kg; sản lượng chung của vườn đạt 10 tấn. Với giá bán buôn 20.000đ/kg thì mỗi cây thu 200.000đ; cả vườn thu 200 triệu, trừ chi phí lãi 90 triệu.
Vụ na thứ 3, năm 2010, rút kinh nghiệm từ 2 vụ trước, ngoài bón phân chuồng ông tăng cường bón thêm vào gốc cây bằng phân vi sinh, phun phân bón qua lá. Sau khi thu hoạch các đợt 1, 2, 3 (na chín nhiều đợt) ông không " bỏ đói" cây mà tiếp tục bón bổ sung bằng phân NPK, thúc cho quả còn lại trên cây to thêm, thêm sản lượng.
Tổng kết vụ na 2010, ông thu lãi 115 triệu, tính chung cả năm thì "lương" trồng na của 2 vợ chồng ông đạt ngót 10 triệu đồng/ tháng, mức thu nhập mà nhiều cặp vợ chồng trẻ còn mơ ước.
Con số thu qua các năm chưa phải lớn so với nhiều ngành kinh doanh khác nhưng nó có ý nghĩa so với thu nhập từ lương hưu của vợ chồng ông và quan trọng hơn là nó khẳng định việc ông làm, hướng ông đi là đúng, rằng cái tuổi ông, sức ông, tầm suy nghĩ của ông chưa đến nỗi phải nghỉ hưu.
Ông nói: nói vậy nhưng vất vả, toát mồ hôi, vì lúc đầu lo không biết sẽ ra sao, trồng có quả không, có quả rồi thì có bán được không, ở nơi rừng núi heo hút ,sức khoẻ thế này mua bán làm sao, trăm nỗi lo...
Vất vả nhất vụ đầu là tìm nguồn nước. Do vị thế đồi trên cao, ông phải thuê đào giếng. Có giếng rồi, không có điện để bơm tưới, ông phải vất vả luỵ nối nguồn điện, ra tận thị trấn Sao Đỏ mua ống, thuê chăng lối, lắp đặt hệ thống dẫn nước khắp vườn..
Sau nữa là thu hoạch, do na chín rất nhanh, thu hoạch không kịp sẽ vứt đi cả đống... Thế nhưng rồi cũng qua, vạn sự khởi đầu nan mà, ông cười.
Theo ông, trồng na, cái quan trọng là nước và phân bón.
Riêng giống, không có gì đáng ngại. Có 2 giống na chính là giống Na dai và na bở. Na dai ưu điểm là dễ vận chuyển xa bằng cơ giới. Na bở ưu điểm ngọt, thơm, mềm nhưng khó vận chuyển xa. Chọn giống nào tuỳ ý, có thể chọn những quả to, cây khoẻ, ít sâu bệnh, lấy hạt tự ươm thì tốt hơn, rẻ hơn và chủ động hơn là đi mua cây giống.
Phân bón, ông sử dụng 2 loại chính là phân chuồng và phân gà, đặt các cơ sở chăn nuôi chở đến, rất tiện. Dùng phân chuồng việc vận chuyển, bảo quản, dự trữ khó hơn dùng phân gà, hơn nữa phân gà dễ rải bón, bón đều hơn. Cái khó của dùng phân gà là khó kiểm về chất lượng vì trong bao có chứa cả trấu và đất. Cái quan trọng là mình phải tìm nguồn ổn định, tin tưởng, nhất là phải đến tận nguồn trại nuôi tìm hiểu, đặt mua lâu dài. Chuẩn bị cho vụ Na 2011 này, ông mua 2000 bao phân gà, ước 40 tấn (15- 20kg/bao, khô hoặc tươi), số tiền chi trên 30 triệu đồng. Số phân mua được ông để nguyên bao chia đều các gốc cây, chờ khi nào cần mới xé bao rải bón.. Ông bảo, để vậy không phải lo kho chứa, không phải mất công chuyển từ kho ra. Ngoài phân chuồng, phân gà ông mua thêm phân vi sinh, phân hoá học, như NPK, nhưng chỉ dùng bón bổ sung còn chủ yếu bón phân gia súc, gia cầm, quả to, ngọt hơn, mã đẹp hơn.
Phòng sâu bệnh, theo ông tuy na ít sâu bệnh hơn những loại cây quả khác, nhưng không thể coi thường vì vẫn có sâu, bệnh nhất là bệnh muội quả. Phun phòng, chú trọng khi na ra hoa, đậu quả.
Thu hoạch, vườn rộng, sức già không thể tự hái được, ông mời thợ đến tận vườn hái quả, còn ông bà chỉ đứng trông cân, cộng sổ tính tiền...theo ông chi phí có gia tăng hơn chút nhưng nhàn hơn, chủ động hơn.
Vào vụ na năm 2011 này, ông bảo có người vào gạ ông cho thuê cây kiểu mua lúa non nửa vườn na của ông, mỗi vụ trả 100 triệu nhưng ông không bán.
Vì sao lại không - tôi hỏi ?
Ông bảo như thế, nhàn nhưng mức thu không thể bằng mình tự chăm, tự bán được. Với lại mình trồng cả vườn bõ công chăm tưới; bán cả vườn, số lượng nhiều thì nhiều người tìm đến vì bõ mua, bõ bán, hơn nữa dễ bán hơn vì một mình một chợ, mà cũng là để tuyên truyền, khẳng định với các nhà báo, nhà đài về qui mô đồi trại nữa chứ... ông cười đắc chí rồi nói:
Tôi nói với các ông nhé, vào thời điểm này, không trồng gì kinh tế bằng trồng na. Ông xem đấy, trước đây khu đồi có mấy chục cây vải, mỗi cây chiếm cả trăm mét đất, mà năm được mùa, năm mất. Có đựợc, mỗi cây giỏi lắm được một vài tạ vải chua, có giá 10, 15 nghìn đồng mỗi cân thì cũng chỉ được vài ba triệu, chia trung bình năm khoảng hơn triệu mỗi cây mà chăm bón, thu hoạch vất vả, mà chậm một ngày chưa hái được, chưa bán được là mất ăn, mất ngủ, mùa hoa gặp phải sương muối, mưa dầm kể như vứt bỏ. Còn trồng na không có chuyện mất mùa; cây na lá thưa tán nhỏ chiếm ít đất, diện tích một cây vải đủ trồng cả chục cây na, chục cây na mỗi vụ thu 2 triệu dễ ợt. Trồng na dễ thu hoạch do cây thưa, thấp; dễ bán, dễ vận chuyển bảo quản mà giá lại cao, vụ vừa rồi, na loại tốt, quả đều, to có giá 30.000đ/kg, loại nhỏ hơn 25.000đ/kg không có mà bán!
Hỏi về dự định, ông nói năm 2011 này, ông sẽ tỉa bớt quả trên mỗi cây để quả to hơn, đều hơn, bán được giá hơn mà lại giảm công hái quả; tận dụng đất dư giữa các vồng na, ông sẽ cho trồng sen gừng; diện tích đất còn lại sẽ làm trại nuôi gà và lợn vừa để tăng nguồn thu từ chăn nuôi vừa chủ động nguồn phân bón. Về dự định chăn nuôi, ông nói đã có một kỹ sư chăn nuôi người Pháp, vợ Việt thuộc Công ty cổ phần Dịch vụ chăn nuôi Thú ý Châu Á (ASVELIS) về thăm cơ sở có ý hợp tác nuôi gà công nghệ sạch trên lô đất của ông theo hướng: Bên A cung cấp giống, vốn, thức ăn, lo phòng bệnh, lo đầu ra sản phẩm siêu sạch cấp cho các khách sạn cao cấp cỡ 3 sao trở lên tại Hà nội và TP Hồ Chí Minh, còn ông - bên B thực hiện nuôi gia công. Theo ông đây là hướng tốt, vợ chồng ông không phải lo đầu ra, lại có thu nhập thêm từ chăn nuôi nhưng quan trọng hơn sẽ được lợi từ nguồn phân bón có giá trị hàng chục triệu mỗi năm....
Đích thực thăm đồi na ông Thái, đi giữa những hàng cây thẳng tắp, xanh mướt, những nụ hoa vàng le lói trong nắng xuân, hứa hẹn một vụ na bội thu, chúng tôi - đoàn phóng viên của Tạp chí Khoa học công nghệ và Môi trường thêm vui lây niềm vui của vợ chồng người cựu chiến binh già, niềm vui thật bình dị, chứa tình nhân văn sâu sắc, người đã hy sinh xương máu của mình nơi chiến tuyến để giữ cho đất nước được bình yên, lúc về già không chịu yên nghỉ, muốn góp thêm sức dù nhỏ nhoi của mình làm giàu, đẹp thêm cho quê hương đất nước.
Từ thăm đồi na ông Thái, chúng tôi nghĩ,chắc một ngày không xa trên mảnh đất đồi rừng Chí Linh đầy sỏi đá tưởng như chỉ có thể trồng vải chua hoặc bạch đàn, phi lao này sẽ xuất hiện thêm nhiều đồi na mới như đồi na ông Thái với qui mô lớn hơn, xanh tươi hơn với những quả tròn núc lỉu mà mỗi mắt na trông tươi rói, sáng tựa ánh mắt nụ cuời, góp phần làm đẹp thêm, giàu thêm cho quê hương Hải Dương cùng đất nước.
                                          Đặng Hữu
                    Bài đăng trên Tạp chí KHCN&MT số 1/2011

 

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912