Khoa học quản lý 2013-04-26 20:37:30

Mô hình giống lúa PC 10 -2 tại huyện Nam Sách. Ảnh Huyền Trang        Theo thống kê từ 2000-2011, rầy nâu và rầy lưng trắng là 1 trong 3 nhóm dịch hại quan trọng nhất trên lúa, trung bình trong những năm qua diện tích bị nhiễm, nhiễm nặng và bị mất trắng tương ứng là 409.000ha, 34.000 ha và 179 ha. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, rầy nâu ở Việt Nam đang thay đổi độc tính.

Tỉnh Hải Dương có diện tích trồng lúa khoảng 63.000 ha, trong đó diện tích lúa bị rầy gây hại hàng năm lên tới hàng ngàn ha tập trung chủ yếu ở các huyện Kim Thành, Bình Giang, Cẩm Giàng, Nam Sách, Ninh Giang, Thanh Miện, thị xã Chí Linh ... đã gây thiệt hại rất lớn cho người nông dân cũng như nền nông nghiệp của tỉnh nhà. Để hạn chế thiệt hại do rầy gây ra đối với cây lúa, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng trong sản xuất lúa thương phẩm UBND tỉnh đã phê duyệt giao cho Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm thực hiện đề tài "Tuyển chọn và phát triển một số giống lúa chất lượng cao, kháng rầy trên địa bàn tỉnh Hải Dương" trong năm 2011-2012 để tuyển chọn một số giống lúa có khả năng kháng rầy đưa vào cơ cầu giống lúa của tỉnh

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa thuần thuộc Viện cây lương thực và cây thực phẩm là đơn vị trực tiếp thực hiện nghiên cứu. Kết quả đã đánh giá được tính kháng rầy nâu của 20 giống lúa do Trung tâm Chọn tạo và Ứng dụng marker phân tử trong phân tích DNA để xác định gen kháng rầy nâu. Các giống lúa được thử nghiệm trong nhà lưới bằng phương pháp hộp mạ của IRRI có cải tiến, theo thang điểm 9 cấp (IRRI, 2002) cùng với giống chuẩn nhiễm TN1 và giống chuẩn kháng PTB33. Đã xác định được 1 giống kháng cao (cấp 1), 2 giống kháng vừa (cấp 3), 7 giống hơi nhiễm (cấp 5), 10 giống nhiễm (cấp 7). Từ kết quả thanh lọc trong nhà lưới chọn được 10 giống lúa từ kháng cao đến kháng vừa, tiến hành đưa vào kiểm tra sự xuất hiện của gen kháng rầy nâu bằng cặp mồi (primer) RG45FL/RL liên kết chặt chẽ với gen Bph-10 (theo công bố của IRRI), sản phẩm PCR, sau đó được cắt bằng enzyme cắt giới hạn HinfI để tìm ra sự đa hình về kiểu gen của các giống lúa tham gia thí nghiệm. Kết quả cho thấy có 1 giống mang kiểu gen đồng hợp tử kháng, 3 giống mang kiểu gen dị hợp tử kháng, 6 giống còn lại không mang gen kháng. Qua việc thanh lọc hộp mạ và marker phân tử đã xác định được 3 giống lúa mang gen kháng rầy nâu Bph-10 là PC10, PC10-2, P376.
Năm 2011 - 2012 đề tài đã tổ chức xây dựng được 6 mô hình tại 3 huyện Bình Giang, Ninh Giang và Nam Sách với quy mô 100 ha.Tổng số hộ tham gia là 463 hộ. Kết quả xây dựng mô hình cho thấy giống lúa P367 có khả năng chịu thâm canh khá, có thể bố trí trên các chân đất vàn, thích hợp gieo cấy trong vụ xuân. Giống PC10-2 có thể bố trí trên chân đất vàn, vàn cao, thích hợp gieo cấy ở cả 2 vụ. Khả năng kháng sâu bệnh hại khá, ít nhiễm bệnh đạo ôn, bạc lá, khô vằn, kháng rầy nâu tốt, chống đổ khá, tỷ lệ hạt chắc cao, độ thuần ổn định, chất lượng gạo cao, hàm lượng dinh dưỡng khá. Giống lúa P376 cho năng suất từ 65-70 tạ/ha trong vụ xuân, 60-65 tạ/ha trong vụ mùa, giống lúa PC10-2 cho năng suất 60-65 tạ/ha trong vụ xuân, 55-60 tạ/ha trong vụ mùa. Giống lúa P376 và PC10-2 có đặc điểm sinh trưởng và phát triển như sau:
Một số đặc điểm nông sinh học chính của giống lúa P376, PC10-2

TT

Chỉ tiêu

P376

PC10-2

1

Sức sinh trưởng giai đoạn mạ (điểm)

1-3 (khỏe)

1-3 (khỏe)

2

TGST (ngày): - Vụ xuân

-  Vụ Mùa

135-140

110 – 115

125-130

100-105

3

Chiều cao cây (cm)

100 – 105

90 – 100

4

Dạng cây

Gọn

Gọn

5

Độ cứng cây (điểm)

1-3 (cứng cây)

1(rất cứng cây )

6

Góc lá đòng

Đứng

Đứng

7

Màu sắc lá

Xanh

Xanh đậm

8

Màu sắc hạt thóc

Vàng

Vàng

9

Độ thoát cổ bông (điểm)

1 (thoát tốt)

3 (vừa phải)

10

Độ dài thời gian trỗ (ngày)

7

4

11

Chiều dài bông (cm)

28-30

23-25

12

Chiều dài hạt gạo (mm)

6,87

6,70

13

Số bông/khóm

4-5

5-6

14

Số hạt/bông

160-170

140-150

Hiệu quả mô hình canh tác giống lúa P376, PC10-2 cho thấy khi canh tác giống lúa PC10-2, P376 giảm chi phí rõ rệt trong việc phun thuốc trừ rầy so với các giống đang được trồng phổ biến tại các địa phương. Chi phí phun thuốc trừ rầy cho giống lúa P376 giảm 4,17 lần so với giống lúa P6 (giảm 3.349.700đồng/ha tương đương khoảng 120.000đồng/sào), chi phí phun thuốc trừ rầy cho giống lúa PC10 giảm 6,65 lần so với giống lúa KD18 (giảm 2.830.000đồng/ha tương đương khoảng 102.000đồng/sào).
Trong cơ cấu giống lúa của tỉnh chủ yếu là Khang dân 18, Bắc Thơm số 7, P6, Q5, Xi23, X21...các giống lúa này đều bị nhiễm rầy ở mức trung bình đến nặng. Có những diện tích cấy P6, BT7, KD18 bị cháy chòm thậm trí cháy1/2 diện tích gieo cấy. Khi lúa bị nhiễm rầy người dân không chỉ bị thiệt hại về chi phí phun thuốc trừ rầy mà còn thiệt hại về năng suất, chất lượng, giá cả của giống lúa sản xuất. Điều đó cho thấy việc bổ sung giống lúa kháng rầy P376, PC10-2 vào bộ giống lúa đang sản xuất đại trà là rất cần thiết.
Nguyễn Thị Miền - Nguyễn Trọng Khanh
Bài đăng trên Tạp chí KHCN số 2/2013

 

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912