Khoa học quản lý 2013-08-26 20:51:26

Năm 2012 - 2013, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học thuộc Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với một số địa phương trong tỉnh thực hiện dự án "Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phát triển sản xuất lúa hàng hoá góp phần xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hải Dương" (dự án lúa) thuộc Chương trình "Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phát triển sản xuất nông sản hàng hóa góp phần xây dựng nông thôn mới tỉnh Hải Dương giai đoạn 2012 - 2015", sau 03 vụ thực hiện dự án đã đạt được một số kết quả, góp phần nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng và giá trị sản xuất lúa hàng hóa tại một số xã nông thôn mới.

Căn cứ vào kết quả điều tra khảo sát nhu cầu tiếp nhận giống mới, dự án lúa đã lựa chọn các giống lúa lai, lúa thuần có năng suất, chất lượng có khả năng kháng bệnh bạc lá đã được sản xuất thử đạt kết quả tốt đưa vào sản xuất tập trung với 03 mô hình lúa lai, lúa thuần chất lượng và lúa đặc sản nếp Quýt.
Mô hình sản xuất giống lúa lai với tổng diện tích 20,0 ha (Bio 404: 15,0 ha, Hương ưu 3068: 5,0 ha), địa điểm thực hiện ở xã Minh Đức (Tứ Kỳ), Hồng Thái (Ninh Giang), An Lâm (Nam Sách). Bio 404 là giống lúa lai 3 dòng có nguồn gốc từ Ấn Độ do Công ty TNHH Bioseed Việt Nam nhập và cung ứng, có năng suất ổn định, thời gian sinh trưởng ngắn (vụ Xuân khoảng 125 - 130 ngày, vụ Mùa từ 105 - 110 ngày). Hương Ưu 3068 là giống lúa lai 3 dòng có nguồn gốc từ Trung Quốc, được công ty TNHH Dịch vụ Nông Nghiệp Trọng Tín du nhập và phát triển tại Việt Nam, có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn (vụ Xuân 120-135 ngày, vụ Mùa 105-110 ngày).
Năng suất thực thu giống Bio 404 đạt 80,22 tạ/ha (2,88tạ/sào) tương đương với giống lúa Thục Hưng 6 đối chứng, lãi đạt 21,7 triệu đồng/ha, tương đương với giống đối chứng. Giống Hương ưu 3068 đạt 82,90 tạ/ha (2,98 tạ/sào), cao hơn giống lúa Thục Hưng 6 đối chứng 2,8 tạ/ha, lãi đạt 27,2 triệu đồng/ha, cao hơn so với đối chứng 5,5 triệu đồng/ha. Chất lượng gạo của 02 giống lúa lai trong mô hình đều cao hơn so với giống đối chứng: cơm mềm, vị đậm, có mùi thơm nhẹ. Các giống lúa lai có khả năng chống chịu khá với một số sâu bệnh hại chính như sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu, bệnh đạo ôn, có khả năng kháng bệnh bạc lá; có khả năng chống đổ tốt, thích ứng rộng.
Mô hình sản xuất giống lúa thuần với tổng diện tích 20,0 ha (Nàng Xuân: 10,0 ha, T10: 10,0 ha), địa điểm thực hiện ở xã Bình Xuyên (Bình Giang), Hồng Thái (Ninh Giang), An Lâm (Nam Sách). Nàng xuân là giống lúa thuần chất lượng cao do Công ty cổ phần nông nghiệp Nhiệt đới chọn tạo từ giống lúa thuần Trung Quốc, có độ thuần cao, đẻ nhánh khoẻ, cứng cây, có lá đòng đứng, trỗ thoát nhanh và trỗ thoát cổ bông, thời gian sinh trưởng vụ Xuân 125-135 ngày, vụ Mùa 105-110 ngày, có khả năng chống đổ khá, nhiễm nhẹ với các bệnh khô vằn, bệnh bạc lá, rầy nâu, sâu cuốn lá, sâu đục thân. T10 là giống lúa thuần chất lượng cao do Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam chọn tạo từ tổ hợp lai DT10/Amber 33 (Amber33 là giống lúa thơm của Iraq), có thời gian sinh trưởng ngắn (vụ Xuân 130-135 ngày, vụ Mùa 105-110 ngày); nhiễm nhẹ bệnh đạo ôn, khô vằn, nhiễm bệnh bạc lá mức trung bình, (vụ Mùa nhiễm bệnh bạc lá nhẹ và bền lá hơn BT7), chống đổ và chịu rét khá.
Năng suất thực thu trung bình của giống lúa Nàng Xuân đạt 64,32 tạ/ha ở vụ Xuân (2,31 tạ/sào), cao hơn so với giống đối chứng Bắc thơm số 7 là 9,53 tạ/ha, đạt 60,19 tạ/ha ở vụ Mùa (2,16 tạ/sào), cao hơn giống lúa đối chứng 9,05 tạ/sào. Lợi nhuận người nông dân thu được trong vụ Xuân, vụ Mùa đạt 16,4 - 19,3 triệu đồng/ha, cao hơn so với đối chứng 6,4 - 6,6 triệu đồng/ha. Giống lúa thuần T10 có năng suất thực thu đạt 58,55 tạ/ha ở vụ Xuân, cao hơn so với đối chứng 3,75 tạ/ha, đạt 54,78 tạ/ha ở vụ Mùa, cao hơn so với đối chứng 2,62 tạ/ha. Lợi nhuận thu được trong vụ Xuân, vụ Mùa đạt 13,9 - 16,6 triệu đồng/ha, cao hơn so với đối chứng 3,9 - 6,6 triệu đồng/ha. Hai giống lúa thuần T10, Nàng Xuân đều nhiễm nhẹ với bệnh đạo ôn, khô vằn, sâu đục thân, cuốn lá, bị nhiễm rầy ở mức khá, có khả năng chống đổ tốt hơn giống đối chứng Bắc thơm 7; chất lượng gạo có nhiều cải tiến hơn so với giống lúa Bắc thơm số 7, cơm không ướt, vị đậm, hương thơm ít thăng hoa nên mùi thơm giữ được lâu, cơm mềm, ngon, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Mô hình vùng sản xuất lúa nếp Quýt tập trung được xây dựng và thực hiện tại xã Cổ Dũng, huyện Kim Thành. Đây là giống lúa đặc sản, đã được người dân gieo cấy đại trà tại địa phương nhiều năm qua. Tuy nhiên, hiệu quả sản xuất giống lúa này chưa cao do việc áp dụng biện pháp kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh (đặc biệt là sâu đục thân) còn nhiều hạn chế. Kết quả mô hình sản xuất tập trung giống lúa đặc sản nếp Quýt đã bước đầu khắc phục được những hạn chế trong sản xuất lúa tại địa phương: việc chỉ đạo phòng bệnh tập trung, áp dụng 03 đúng nâng cao hiệu quả phòng trừ sâu bệnh, giảm chi phí thuốc bảo vệ thực vật. Mặc dù cơn bão số 8 vào tháng 11/20122 đã gây ngập úng và làm cho lúa bị đổ nhưng năng suất mô hình vẫn đạt 43,06 tạ/ha.
Thực hiện kế hoạch dự án trong năm 2012 là năm có diễn biến thời tiết tương đối thuận lợi cho sản xuất trồng trọt, nhìn chung các mô hình đạt kết quả tốt.
Năm 2013, dự án lúa tiếp tục triển khai thực hiện các nội dung theo kế hoạch đã được UBND tỉnh phê duyệt. Vụ xuân: Qui mô thực hiện: 80ha, trong đó: lúa lai: 40ha; lúa thuần: 40ha; địa điểm ở các xã: Hùng Thắng, Hùng Sơn, Minh Đức, Hợp Tiến. Kết quả theo dõi đánh giá năng suất các giống lúa lai và lúa thuần thống kê tại các xã tham gia mô hình: Lúa lai Bio 404 đạt 76-78 tạ/ha, Nghi Hương 2308 đạt 76-80 tạ/ha; lúa thuần T10 đạt 55-57 tạ/ha, TBR 45 đạt 61-63 tạ/ha, Nàng Xuân đạt 56-58 tạ/ha. Vụ mùa, dự án triển khai với quy mô thực hiện 60ha lúa thuần, địa điểm ở các xã: Minh Đức (Tứ Kỳ): 20 ha giống lúa TBR45, Hùng Sơn (Thanh Miện): 10 ha giống lúa Nàng Xuân, Hùng Thắng (Bình Giang): 20ha giống lúa Nàng Xuân, Phú Điền (Nam Sách): 10 ha giống Nàng Xuân.
Mô hình sản xuất một số giống lúa hàng hóa ở tỉnh Hải Dương thuộc dự án lúa đến nay mới chỉ là năm thứ hai thực hiện nhưng đã đạt được những kết quả bước đầu. Dự án đã nâng cao nhận thức cho người nông dân trong sản xuất lúa hàng hóa và áp dụng các biện pháp thâm canh, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Kết quả bước đầu của dự án tạo tiền đề cho việc xây dựng các khu sản xuất tập trung giống lúa mới đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và có thị trường tiêu thụ; sản xuất tập trung khắc phục một số hạn chế trong việc thực hiện thời vụ gieo cấy, phòng trừ sâu bệnh, vận hành hệ thống thủy nông; tạo điều kiện thuận lợi áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống mới, máy cấy, máy gặt đập liên hoàn, thuốc bảo vệ thực vật và việc áp dụng một số biện pháp kỹ thuật canh tác lúa: tháo nước lộ ruộng, bón phân, ... Kết quả dự án càng có ý nghĩa với tỉnh Hải Dương, là một tỉnh mỗi năm có diện tích lúa khoảng trên 120 nghìn ha, nếu tạo lập được các vùng sản xuất lúa hàng hóa tập trung quy mô lớn sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất, lợi nhuận cho người nông dân, góp phần tăng thu nhập và sớm thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới ở tỉnh ta.
Vũ Văn Tân
Bài đăng trên Tạp chí KHCN số 4/2013

 

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912