Khoa học quản lý 2014-09-25 09:30:22

      Trong môi trường quốc tế cạnh tranh ngày càng gay gắt, hiện nay, khoa học công nghệ được xem là công cụ chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội một cách nhanh chóng và bền vững. Thực tế này đang đặt ra cho chúng ta (cả ở cấp độ vĩ mô và vi mô) những yêu cầu bức thiết về đổi mới công nghệ, về sự tồn tại và phát triển của bản thân mỗi doanh nghiệp và cả quốc gia.

Đổi mới công nghệ là việc chủ động thay thế phần quan trọng (cơ bản, cốt lõi) hay toàn bộ công nghệ đã, đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn, hiệu quả hơn. Đổi mới công nghệ có thể chỉ giải quyết bài toán tối ưu về các thông số của quá trình sản xuất như: năng suất, chất lượng, hiệu quả… hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trường. Đổi mới công nghệ cũng có thể trên cơ sở đưa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới chưa có trên thị trường hoặc là thông qua việc chuyển giao công nghệ…
Như vậy, công nghệ là một sản phẩm của con người và nó cũng tuân theo quy luật chu trình sống của sản phẩm. Tức là nó được sinh ra, phát triển và cuối cùng là suy vong. Bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu không có những hoạt động nhằm đổi mới công nghệ thì chắc chắn hệ thống công nghệ, dây chuyền sản xuất, máy móc, trang thiết bị… sẽ trở nên lạc hậu, hiệu quả kinh tế thấp, dẫn đến bị đào thải, làm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bị đe doạ. Do đó, đổi mới công nghệ là tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển.
Xác định tầm quan trọng của khoa học công nghệ trong việc nâng cao sức cạnh tranh của kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng, những năm qua Hải Dương dựa trên những lợi thế của tỉnh để định hướng, đầu tư đổi mới công nghệ trong sản xuất công nghiệp theo hướng tăng lợi thế cạnh tranh. Vì vậy, Hải Dương đã và đang trở thành môi trường hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp. Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, hiện nay một số bạn hàng chủ yếu của tỉnh như: EU, Trung Quốc, Nhật Bản,... Về sản phẩm xuất khẩu, có một số loại đã được thị trường nước ngoài chấp nhận và ngày một tăng về số lượng và mở rộng thị trường (sản phẩm may mặc, da giầy, bánh kẹo, dây cáp điện, nhôm định hình,...). Những kết quả đạt được trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp là do việc áp dụng những thành tựu mới trong khoa học công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm công nghiệp và tạo nên sức cạnh tranh trên thị trường.
 Trong cơ cấu ngành công nghiệp hiện nay, tỉnh đã xác định các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh và công nghệ cao: Ngành cơ khí, điện, điện tử, sản xuất vật liệu xây dựng, may - giày và chế biến nông lâm sản và thực phẩm là những ngành chủ lực, tạo sự phát triển bền vững và ảnh hưởng quyết định sự phát triển công nghiệp của tỉnh.
Công nghiệp cơ khí, điện tử là ngành chiếm vị trí quan trọng, nhưng do khủng hoảng kinh tế đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của ngành. Tính đến năm 2011, GTSX của ngành đạt khoảng 6.328 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 17,5%. Một số sản phẩm mới đã xuất hiện trên thị trường như: Dây cáp điện, nhôm định hình, lắp ráp ôtô con và ôtô tải . . . một số sản phẩm đã giữ được thương hiệu như: Bơm nước các loại của công ty CP Chế tạo bơm Hải Dương, sản phẩm đá mài và bột mài của công ty CP Đá mài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh có hiệu quả, góp phần lớn vào nguồn thu của tỉnh là Công ty Ford.
Nhìn chung sản xuất cơ khí, điện tử trên địa bàn tỉnh đã và đang được củng cố và có triển vọng phát triển mạnh. Giai đoạn 2006-2010, GTSX đạt 17,5 %/ năm (so với toàn ngành là 13,7%); nhưng năng suất lao động chỉ tăng 13,35%/năm, trong khi đó số lao động lại tăng trên 17%/năm. Tuy nhiên, mức tăng năng suất lao động của ngành cơ khí, điện tử trên địa bàn năm 2010 bằng 0,76 lần chỉ tiêu này của công nghiệp toàn tỉnh. Tỷ trọng ngành cơ khí, điện tử trong cơ cấu GTSX công nghiệp toàn tỉnh tăng từ 10,34% năm 2000 lên 20,49% trong năm 2005 và 26,0% năm 2010 (tăng chủ yếu do sản xuất thiết bị điện, lắp ráp ôtô và phương tiện vận tải khác).
Ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đã phát huy lợi thế, duy trì tốc độ tăng trưởng cao. GTSX năm 2010 đạt 7.100 tỷ đồng, vượt 18% so với mục tiêu; tăng trưởng bình quân đạt 13,9%/năm.
 Các sản phẩm chủ yếu: xi măng 6,7 triệu tấn; gạch xây 665 triệu viên; gạch ceramic 11,2 triệu m2. Các sản phẩm xi măng của Hải Dương nhất là thương hiệu xi măng Hoàng Thạch, xi măng Phúc Sơn đã có uy tín trên thị trường, có khả năng cạnh tranh về giá cả, chất lượng. Công nghiệp sản xuất xi măng trong 10 năm tới vẫn là ngành công nghiệp chủ chốt là nguồn thu ngân sách lớn cho tỉnh. Công nghiệp sản xuất gạch ốp lát, gạch nung tiêu chuẩn vẫn phát triển mạnh trong giai đoạn 2006-2015 do nhu cầu xây dựng các khu đô thị mới, khu chung cư và xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp.
Ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng có lợi thế tại chỗ rất lớn, nhưng GTSX công nghiệp của ngành mới chỉ chiếm 32,0% GTSX công nghiệp toàn tỉnh năm 2010). Lợi thế mạnh nhất là sản xuất xi măng năm 2010 cũng chỉ chiếm khoảng 84,9% ngành sản xuất vật liệu xây dựng. Ngoài 2 nhà máy xi măng lớn là Hoàng Thạch và Phúc Sơn, sản phẩm của các nhà máy khác trong tỉnh chưa đáp ứng được chất lượng.
Ngành dệt may, da giày là ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất của khủng hoảng kinh tế thế giới. GTSX năm 2010 đạt 1.367 tỷ đồng, chỉ bằng 62,1% so với mục tiêu. Trong đó may mặc là 667 tỷ đồng (mục tiêu 1.200 tỷ đồng); giầy dép đạt 700 tỷ đồng. Sản phẩm may mặc 95,9 triệu sản phẩm, tăng 67,1% so với mục tiêu; sản lượng giày dép đạt 9,8 triệu đôi. Tuy nhiên đây là ngành đang có lợi thế phát triển ở Hải Dương. Dệt may, giày dép là hai trong số 5 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh năm 2010.
Ngành công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm đã được chú trọng phát triển, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 là 14,9%/ năm. Tuy GTSX công nghiệp không lớn nhưng đã có sự đổi mới công nghệ thiết bị chế biến, nâng cao một bước chất lượng sản phẩm thị trường. Đây là ngành có số cơ sở sản xuất lớn, chiếm hơn 40% số cơ sở của toàn ngành. Như vậy, giai đoạn 2006 - 2010 các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh và công nghiệp công nghệ cao đã từng bước vượt qua khó khăn và duy trì được sự tăng trưởng, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong toàn ngành.     
Các ngành công nghiệp khác: Nhìn chung công nghệ còn chậm đổi mới hơn, năng suất thấp, khả năng cạnh tranh chưa có hoặc rất thấp như: công nghiệp khai thác, hoá chất…
Trong bối cảnh hiện nay, việc nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành vấn đề sống còn mà điều đó phụ thuộc rất lớn vào năng lực công nghệ của DN trong công nghiệp.
Được biết, nhằm đẩy mạnh hoạt động KHCN trong DN, Bộ Tài chính đã bàn hành Thông tư 15/2011/TT-BTC hướng dẫn thành lập tổ chức, hoạt động, quản lý và sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ của DN. Mục đích là nhằm tạo nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động KHCN của DN thông qua hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phát triển, đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, hợp lý hoá sản xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh của DN. Đây là cơ hội để đẩy mạnh phát triển, nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm của sản xuất kinh doanh, trong đó có công nghiệp.
Dưới tác động đổi mới của nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, thị trường có cạnh tranh và để công nghiệp nhanh chóng hội nhập, khoa học công nghệ trong công nghiệp của tỉnh đã và đang tích cực thay đổi, tập trung theo những hướng cơ bản như:
 Tiếp thu công nghệ, thiết bị tiên tiến của nước ngoài để khai thác, phát huy tiềm năng sẵn có của tỉnh (về nguyên liệu, nguồn lao động) để tập trung phát triển một số ngành công nghiệp có lợi thế: nhiệt điện Phả Lại, xi măng Hoàng Thạch, xi măng Phúc Sơn, Công ty thực phẩm Nghĩa Mỹ, Vạn Đắc Phúc, thức ăn chăn nuôi Hoa Kỳ, Công ty TNHH lắp ráp ô tô Ford Việt Nam, các công ty sản xuất nhôm TungKoang, dây cáp điện TAYT, dây điệnSumidenso...
Lựa chọn các tiến bộ khoa học hợp lý, tiến tiến để đổi mới và hoàn thiện các công nghệ đã có kết hợp với đổi mới về quản lý như áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như: ISO, SA, HACCP...để khai thác nguyên liệu, lao động tại chỗ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đã có, tạo ra sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu thị trường: sản xuất vật liệu xây dựng, may mặc, giầy da, cơ khí, bia và nước giải khát, ...
Đồng thời tích cực áp dụng những tiến bộ khoa học tiên tiến để tạo ra các sản phẩm mới công nghệ cao, có giá trị xuất khẩu: Dây cáp điện, nhôm định hình, lắp ráp ôtô con và ôtô tải, ... Bên cạnh đó,  không ngừng  nghiên cứu cải tiến và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống: trạm khắc gỗ Đông Giao, gốm sứ Chu Đậu, rượu Phú Lộc, giầy da Hoàng Diệu,... và mở rộng quy mô các làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong toàn tỉnh.
Chính khoa học công nghệ là động lực để phát triển các ngành công nghiệp nhất là ngành công nghiệp hiện đại. Do đó sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại sẽ là cơ sở xuất hiện  các ngành công nghiệp mới, hiện đại. Sức cạnh tranh các ngành công nghiệp tỉnh Hải Dương đã và sẽ tiếp tục khẳng định khả năng thích ứng nhanh trong bối cảnh kinh tế phát triển theo xu thế hội nhập nhờ sự đổi mới đường lối, chính sách phát triển công nghiệp.
ThS.  Nguyễn Thị Hải Vân
Trường Cao đẳng Hải Dương
 
 
 
 
 
 

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912