Khoa học quản lý 2015-02-02 01:03:36

Tiến sỹ Triều Lê, Thân Nhân Trung đã từng nói rằng: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn…”. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã có biết bao hiền tài, họ đã có những đóng góp rất lớn cho lịch sử nước nhà, trên nhiều lĩnh vực khác nhau mà giá trị tư tưởng và ý nghĩa thực tiễn thuộc các lĩnh vực đó đã trở thành kinh nghiệm, di sản quý báu cho đất nước ta, đặc biệt trong số đó có những danh nhân người Hải Dương. Nhân dịp chào đón Xuân Ất Mùi, xin được giới thiệu các danh nhân Việt Nam sinh vào các năm Mùi:

          ẤT MÙI
- Nguyễn Đăng Đạo (1651 - 1719) quê làng Hoài Bão, huyện Tiên Du, trấn Kinh Bắc (nay là xã Liên Bảo, Tiên Du, Bắc Ninh). Ông đỗ Trạng nguyên năm 1683, làm quan đời vua Lê Huy Tông ở Ngự Sử đài, rồi giữ chức Tham tụng, hai lần đi sứ nhà Thanh. Ông được nhân dân gọi là Trạng Bịu, gắn với tên của địa phương. Ông nổi tiếng cả ở Trung Quốc bởi tài năng học vấn uyên thâm. Sau khi ông mất, vua Lê Dụ Tông tặng ông 4 chữ “Lưỡng quốc Trạng nguyên”.
- Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) quê ở làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Trước đây tên ông là Nguyễn Thắng, xuất thân trong một gia đình Nho học lâu đời. Năm 1864, ông đỗ đầu kỳ thi Hương (Giải nguyên), năm sau thi Hội không đỗ mới đổi tên là Nguyễn Khuyến và ở lại Huế học Trường Quốc Tử Giám. Năm 1871, ông thi Hội đỗ Hội nguyên, thi Đình đỗ Đình nguyên. Vì thế người ta gọi ông là Tam nguyên Yên Đổ. Sau đó, ông làm quan ở Huế, Thanh Hóa, Nghệ An rồi Quảng Ngãi. Năm 1883, Triều đình nhà Nguyễn ký hàng ước với Pháp, ông cáo quan về nhà, vẫn được phong chức Quyền Tổng đốc Sơn Tây nhưng lại thoái thác vì không muốn hợp tác với giặc. Sau đó ông đến dạy học ở nhà Hoàng Cao Khải một thời gian ngắn. Ông để lại tác phẩm “Yên Đổ tam nguyên quốc âm thi tập” gồm 200 bài thơ chữ Hán, 100 bài chữ Nôm gồm các thể Đường luật, song thất lục bát, văn tế…
- Tôn Thất Thuyết (1835 - 1913) quê ở thôn Phú Mộng, xã Xuân Long (Huế). Năm 1869, ông được bổ nhiệm chức Án Sát Hải Dương rồi đổi sang làm Tán tương quân vụ dưới quyền Hoàng Tá Viêm phụ trách quân Thứ Lạng Sơn - Cao Bằng - Bắc Ninh - Thái Nguyên. Ngày 21/12/1873, ông tham gia đánh trận Cầu Giấy lần thứ nhất cùng với đội quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, cánh quân của ông đã giết được tên phó tướng Ban Ny ở đền Voi Phục (Hà Nội). Năm 1883, ông được sung vào Viện Cơ Mật. Năm 1886, phong trào kháng chiến gặp nhiều khó khăn, ông giao lại nhiệm vụ cho hai con trai là Tôn Thất Đàm và Tôn Thất Thiệp và các hạ thủ rồi sang Trung Quốc cầu viện.
- Phạm Hồng Thái (1895 - 1924) quê làng Do Nha nay là xã Hưng Nhân, Hưng Nguyên, Nghệ An. Thuở nhỏ ông theo học ở Huế, năm 25 tuổi ông làm công nhân Nhà máy xe lửa Trường Thi và Nhà máy đèn Bến Thủy. Sau cuộc bãi công ở đây, ông bị đuổi, phải tìm đường ra mỏ kẽm Chợ Chu (Bắc Kạn) làm công nhân. Tại đây ông vận động công nhân bãi công chống áp bức bóc lột của bọn chủ nên bị đuổi. Đầu năm 1924 ông cùng với Lê Hồng Phong và Lê Thiết Hùng tìm đường sang Thái Lan và Trung Quốc. Tại Quảng Châu, ông gia nhập “Tâm tâm xã”, nhận nhiệm vụ ném bom giết Toàn quyền Méc-lanh khi hắn ghé Quảng Châu nhưng Méc - lanh bị thương nhẹ, còn ông bị đuổi chạy đến bờ sông Châu Giang thì cùng đường nên nhảy xuống sông và bị cuốn trôi. Tiếng bom Phạm Hồng Thái đã thức tỉnh lòng yêu nước của đồng bào ta trong lúc phong trào cách mạng đang phát triển, báo hiệu bắt đầu thời kỳ đấu tranh của dân tộc Việt Nam.
ĐINH MÙI
- Đỗ Ngọc Du (1907 - 1938) quê ở xã Tả Thanh Oai, Hà Tây nhưng sinh ra ở thị xã Hải Dương. Do sớm giác ngộ cách mạng nên ông đã tham gia phong trào bài khóa của học sinh đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, để tang Phan Châu Trinh và bị đuổi học. Năm 1926, ông được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Cộng sản đoàn và về hoạt động cách mạng ở Hải Phòng. Năm 1929, ông được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành lâm thời, phụ trách Giao thông và tài chính, trực tiếp làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ và Bí thư Thành ủy Hà Nội. Sau năm 1930, ông sang Trung Quốc bắt liên lạc với Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng với đồng chí Nguyễn Lương Bằng xuất bản báo chí như “Hồng quân”, “Kèn gọi lính” và gây dựng cơ sở trong quân đội Pháp. Sau ông bị bắt tại Thượng Hải, trải qua các nhà tù như Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo đến năm 1936 được “ân xá” và quản thúc tại Hà Nội.
- Phan Đình Phùng (1847 - 1895) quê làng Đông Thái, nay là xã Đức Phong, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đỗ Đình Nguyên Tiến sĩ năm 1877 nên thường gọi là cụ Đình, được bổ nhiệm làm tri huyện Yên Khánh, Ninh Bình. Sau về Huế giữ chức Ngự Sử. Tính ông cương trực, khẳng khái, dám phản đối việc phế truất vua Dục Đức của Tôn Thất Thuyết nên bị đuổi về làng. Hai năm sau ông lại được Tôn Thất Thuyết triệu lại và cử ra giữ chức Hiệp thống quân vụ, lãnh đạo nghĩa quân chống thực dân Pháp tại rừng núi Hương Sơn và Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh. Ông đã có công rất lớn trong việc duy trì lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống thực dân Pháp trong 10 năm được nhân dân tin tưởng, ủng hộ. Ông bị thương trong một trận đánh và ngày 28/12/1895 ông mất. Giặc Pháp và phong kiến tay sai nghe tin đã cho đào mộ ông lên, đốt xác thành tro rồi nhồi vào nòng súng bắn xuống sông La.
- Nguyễn Cao Luyện (1907 - 1987) là nhà khoa học Việt Nam quê ở Thành phố Nam Định. Năm 1933, ông tốt nghiệp xuất sắc trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khoa Kiến trúc và được cử đi học ở Pháp. Sau khi về nước, ông giảng dạy tại trường và mở trường Kiến trúc sư tại Hà Nội. Năm 1946, ông theo Chính phủ cách mạng lên Việt Bắc, là thành viên ban lãnh đạo Vụ Kiến trúc thuộc Bộ Giao thông công chính.
KỶ MÙI
- Nguyễn Văn Chiển (sinh năm 1919) là giáo sư ngành Địa chất học Việt Nam, quê ở thôn Ngọc Nội, xã Trạm Lộ, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình theo học ở Trường THPT Bưởi (Hà Nội), ông được cấp học bổng toàn phần và tốt nghiệp trung học đỗ đầu xứ Đông Dương. Năm 1944, ông thi đỗ cử nhân trường Cao đẳng Khoa học, ngành địa chất và tham gia thành lập Trường Trung học kháng chiến. Năm 1951, ông làm Hiệu trưởng trường Trung cấp Sư phạm Trung ương rồi chuyển công tác về Bộ Giáo dục, trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Luận án khoa học của ông được trường Đại học Mỏ Lê Nin Grat đánh giá cao. Năm 1977, ông là Viện phó Viện Khoa học Việt Nam, là người đặt nền móng cho Trung tâm Viễn thám thuộc Viện Khoa học Việt Nam.
TÂN MÙI
- Bế Văn Đàn (1931 - 1954), dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Năm 1949 ông gia nhập quân đội chống thực dân Pháp, tham gia hầu hết các chiến dịch, trong một lần đơn vị ông nhận được lệnh cấp tốc lên Lai Châu chặn đánh địch đang rút về Điện Biên Phủ. Đại đội của ông đã kịp thời tiêu diệt địch ở Mường Pồn. Sau đó địch cho máy bay oanh tạc phối hợp với bộ binh bao vây quân ta, khi quân giặc xông lên, khẩu trung liên của ta đặt ở nơi tầm súng quá thấp, trong tình thế hiểm nguy, Bế Văn Đàn đã quỳ xuống nâng khẩu súng lên hai vai, lấy thân mình làm giá súng, đồng thời miệng hô lớn thúc giục đồng đội bắn chặn giặc. Dù bị địch bắn trúng và ngã nhào, Bế Văn Đàn tỉnh dậy vẫn kêu đồng đội tiếp tục bắn. Dưới làn đạn khốc liệt của địch, Bế Văn Đàn đã anh dũng hy sinh và được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
QUÝ MÙI
- Nhữ Đình Toản (1702 - 1773) người làng Hoạch Trạch, huyện Đường An, nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương Xuất thân trong một gia đình Nho học, ông nội và cha đều đỗ Tiến sỹ, làm quan to. Ông cũng đỗ Tiến sỹ năm 34 tuổi. Năm 1740, ông làm Tham tụng, được Chúa Trịnh yêu dấu đối tên là Công Toản. Ông đã cùng Hà Tôn Huân điều trần nhiều việc hay, hợp ý chúa nên được thăng Thượng thư Bộ binh. Năm 1751 ông được hiệu chỉnh quyền Bách quan chức trưởng dùng dạy các quan, được khen ngợi, ông lại xin Chúa cho khôi phục thơ văn đời Hồng Đức. Sau vì muốn xa nơi quyền thế, ông xin sang võ ban, thăng đến tả đô đốc tước Trung phái hầu rồi xin về hưu. Chúa Trịnh mời ra làm việc nhưng ông không ra. Khi ông mất được thăng Thái bảo.
- Nguyễn Trọng Thuật (1883 - 1940) quê huyện Nam Sách, Hải Dương, có biệt hiệu là Đồ Nam Tử, đi dạy học, sau chuyên viết báo, viết văn. Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, ông thôi hoạt động chính trị, chuyển sang nghiên cứu Phật giáo. Ông viết cho tờ “Đuốc tuệ” của Hội Phật giáo Bắc Kỳ. Ông còn là biên tập viên của Tạp chí Nam Phong, từ những năm 1917 trở đi. Tác phẩm nổi tiếng của ông có “Quả dưa đỏ” (tiểu thuyết) về sự tích Mai An Tiêm, được giải thưởng văn chương của Hội Khai trí Tiến Đức (1925).
Phạm Thị Lan
Bài đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ số 1/2015

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912