Những vấn đề chung 2015-06-30 08:34:33

Giai đoạn 2011 - 2015 có 151 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) được thực hiện; số nhiệm vụ KH&CN phát huy tác dụng ở mức độ khác nhau là 147 nhiệm vụ, chiếm 97,3%. Có 4 nhiệm vụ không ứng dụng được trong thực tế thuộc lĩnh vực khoa học nông nghiệp, chiếm 2,6%; các nhiệm vụ KH&CN thuộc các lĩnh vực khoa học khác 100% được ứng dụng và phát huy tác dụng.

1. Trong lĩnh vực khoa học nông nghiệp
Nghiên cứu, thử nghiệm lựa chọn các giải pháp KH&CN trong sản xuất và đời sống, các giống mới phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh, năng lực của người dân và tập quán sản xuất từng vùng trên địa bàn tỉnh để chuyển giao cho người dân đưa vào sản xuất đại trà; đồng thời xác định các biện pháp canh tác, các giống cây trồng, vật nuôi mới không phù hợp với điều kiện của tỉnh để có biện pháp quản lý, khuyến cáo cho người dân không áp dụng trong sản xuất và đời sống tránh thiệt hại cho người dân; ứng dụng công nghệ sinh học xử lý môi trường trong sản xuất nông nghiệp và môi trường nông thôn. Các giải pháp khoa học trong lĩnh vực này đã được áp dụng vào sản xuất có hiệu quả như: thực hiện gieo cấy theo phương thức một vùng, một giống, một thời gian; mô hình tổ chức và quản lý sản xuất lúa tập trung, phát triển vùng sản xuất hàng hóa, xây dựng “cánh đồng mẫu lớn”; giải pháp trồng ngô mật độ cao không làm đất kết hợp đặt bầu, chỉnh tán giảm công lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế trồng ngô so với biện pháp canh tác truyền thống lên 20%; giải pháp kỹ thuật phục tráng giống, cải tạo vườn cây ăn quả kém hiệu quả bằng công nghệ nghép chồi, nâng cao giá trị kinh tế,v.v…
- Đối với cây lúa: Tiếp nhận và làm chủ được công nghệ sản xuất một số giống lúa mới có năng suất, chất lượng, chống chịu sâu, bệnh. Khảo nghiệm, sản xuất thử đã kết luận và lựa chọn được 19 giống lúa mới phù hợp với điều kiện canh tác của tỉnh cho năng suất và hiệu quả kinh tế. Xây dựng thành công các cánh đồng mẫu lớn, phát triển các mô hình cơ giới hóa từ khâu làm đất, sản xuất mạ khay, cấy bằng máy đến khâu thu hoạch giảm chi phí sản xuất nâng cao hiệu quả kinh tế so với sản xuất thông thường từ 6-7 triệu đồng/ha.
- Đối với cây rau mầu: sản xuất thử lựa chọn được 12 giống phù hợp với điều kiện của tỉnh để đưa vào cơ cấu cây rau màu của tỉnh như các giống: cà chua ghép gốc cà tím, khoai tây Sinora, bí xanh số 1, bí xanh số 2,…
- Cây ăn quả: đã đưa 7 giống cây ăn quả mới vào cơ cấu cây trồng của tỉnh, tiêu biểu như giống: Thanh long ruột đỏ, ổi lê Đài Loan,... Duy trì và phát triển vườn cây ăn quả đầu dòng của tỉnh. Áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt VietGAP vào cây vải thiều cho năng suất tăng 10 - 15%, giá trị sản xuất tăng 15 - 20% so với sản xuất trước đây.
- Cây công nghiệp: phát triển mở rộng vùng sản xuất các giống chè mới Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên thay thế có hiệu quả vườn chè giống cũ và các vườn cây kém hiệu quả trên địa bàn thị xã Chí Linh nhằm phát triển thương hiệu trà Dược Sơn mới được xây dựng.
- Đối với chăn nuôi: phát triển một số giống lợn đực ngoại để tạo các con lai 2 - 3 máu ngoại cho phẩm chất, năng suất, chất lượng thịt tốt. Đưa các dòng lợn lai mới vào sản xuất nhằm tăng năng suất và chất lượng thị cho đàn lợn của tỉnh, cho hiệu quả kinh tế cao hơn các dòng nái khác trên 10%. Đã đưa 10 giống gia cầm mới vào phổ biến cho hàng ngàn hộ nông dân áp dụng, mở rộng sản xuất hàng hóa tại các huyện trong tỉnh, tiểu biểu như các giống: gà lông màu TP, XTP1, Lương Phượng, gà Mía lai, gà ri lai, gà lai chọi, vịt Super Heavy, M3, v.v...
- Đối với thủy sản: đầu tư xây dựng hoàn chỉnh khu sản xuất cá giống Rô phi đơn tính đực lai tạo bằng công nghệ lai xa, có thể sản xuất được trên 2,0 triệu con giống/năm để chủ động cung cấp giống cho người dân trên địa bàn tỉnh,... Đến nay các giống cá rô phi đơn tính đực, cá rô phi từ Điêu Hồng đã phát triển mở rộng ở 12 huyện, thị xã, thành phố trên toàn tỉnh, diện tích nuôi đã lên tới 2.502 ha, chiếm 24,5% diện tích nuôi thủy sản của tỉnh, sản lượng trung bình đạt 18.000 tấn/năm. Ứng dụng các kỹ thuật xử lý môi trường ao nuôi bằng công nghệ sinh học,… đã góp phần duy trì diện tích nuôi thủy sản của tỉnh ở mức trên 10.000 ha.
- Chế biến nông sản: xây dựng và đưa vào hoạt động 01 mô hình giết mổ tập trung tại thành phố Hải Dương; áp dụng công nghệ sấy rau gia vị mới đảm bảo vệ sinh thực phẩm, tiết kiệm năng lượng vào sản xuất các sản phẩm nông sản phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu như: hành, cà rốt, các loại rau gia vị.
- Về Thủy lợi: nghiên cứu sử dụng hiệu quả hệ thống các hồ chứa, kênh mương, trạm bơm tưới, tiêu hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiên tai, biến đổi khí hậu gây ra…
2. Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ
Ứng dụng công nghệ GIS và phần mềm quản lý hành trình xe ô tô nâng cao hiệu quả công tác quản lý vận hành các tuyến xe; ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi cấy mô tế bào thực vật trong sản xuất một số loại cây giống.
Nghiên cứu thử nghiệm thành công công nghệ chôn lấp rác hợp vệ sinh quy mô xã, xây dựng thành công các mô hình “Cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường nông thôn tỉnh Hải Dương” tại 20 xã điểm của 5 huyện, đã trở thành mô hình trình diễn để các huyện triển khai mở rộng ra toàn tỉnh. Đến nay đã có 136 bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh được xây dựng tại các xã, thị trấn; toàn tỉnh có 25 hợp tác xã môi trường, trên 226 tổ thu gom rác thải hoạt động hiệu quả.
Nghiên cứu lựa chọn giải pháp xử lý rác thải đồng ruộng, xử lý rơm rạ dư thừa sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ bằng chế phẩm sinh học giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường do việc đốt, xả thải bừa bãi rơm rạ dư thừa sau thu hoạch; ứng dụng thành một số chế phẩm sinh học xử lý môi trường ao nuôi thủy sản, v.v... Ngoài ra trong lĩnh vực này tỉnh còn hợp tác với Nhật Bản triển khai thử nghiệm công nghệ Saibon trong xử lý nước thải sau chăn nuôi quy mô trang trại.
Nghiên cứu đề xuất các biện pháp về bảo vệ, khai thác và phát triển tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ môi trường sinh thái của tỉnh làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội gắn với bảo vệ môi trường của tỉnh như: đánh giá các yếu tố gây sự suy thoái ô nhiễm tài nguyên nước dưới đất; nghiên cứu ứng dụng về tiết kiệm năng lượng, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên và môi trường,v.v…
3. Trong lĩnh khoa học y, dược
Nghiên cứu quản lý và sử dụng thuốc an toàn hợp lý, áp dụng các kỹ thuật tiến bộ về y học trong phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị ở bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện như: ứng dụng thành công máy đo áp lực nội sọ liên tục CAMINO điều trị cho bệnh nhân chấn thương sọ não nặng; áp dụng tiến bộ kỹ thuật để điều trị vàng da tăng Billirubin tự do nặng ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi tỉnh Hải Dương; nghiên cứu lựa chọn kháng sinh điều trị hiệu quả bệnh viêm phổi cộng đồng ở trẻ em dưới 5 tuổi, v.v... Đánh giá thực trạng và đề xuất mô hình xã hội hóa dịch vụ y tế tại các bệnh viện công lập làm cơ sở cho ngành y tế của tỉnh thực hiện xã hội hóa dịch vụ y tế nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và chữa bệnh cho nhân dân. Nghiên cứu phát triển nguồn dược liệu, sản xuất viên nang, thực phẩm chức năng; áp dụng một số bài thuốc y học cổ truyền điều trị hiệu quả một số bệnh như: sỏi tiết liệu, an thần; tiểu đường, v.v...
Ngoài ra bằng nguồn vốn của tỉnh, trái phiếu Chính phủ, nguồn vốn xã hội hóa đã đầu tư các thiết bị, công nghệ mới về chẩn đoán hình ảnh, nội soi, sinh hóa, sinh học phân tử choa hệ thống các bệnh viện trên địa bàn tỉnh.
4. Trong lĩnh vực khoa học xã hội và khoa học nhân văn
Các kết quả nghiên cứu về lĩnh vực khoa học xã hội và khoa học nhân văn đã cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tổng kết đánh giá việc thực hiện các chương trình, đề án của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương nhiệm kỳ 2010 - 2015 đề ra và xây dựng phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể để trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2015 - 2020).
Nghiên cứu cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Trung ương vào điều kiện thực tiễn của tỉnh. Xây dựng các giải pháp thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh và Quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng và tổ chức thực hiện cơ chế phản biện xã hội nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp tỉnh Hải Dương.
Xây dựng các mô hình chuyển dịch kinh tế trong nông nghiệp, phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới, thực hiện dồn điền đổi thửa, chỉnh trang đồng ruộng. Nghiên cứu và tổ chức thực hiện các giải pháp góp phần thay đổi tập quán sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất theo mô hình mẫu lớn, sản xuất trang trại, gia trại và đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung.
Nghiên cứu áp dụng một số phương pháp giảng dạy tích cực góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực tại các trường Đại học, Cao đẳng, các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh
 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá và lựa chọn sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh, đưa ra các định hướng phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực giai đoạn 2013 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030; đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Nghiên cứu các giải pháp đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả về cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh. Thực hiện có hiệu quả Đề án "Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh". Đến nay 100% các đơn vị hành chính đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 và thực hiện quản lý theo mô hình khung, góp phần cải cách thủ tục hành chính.
Xuất bản các bộ sách: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hải Dương, lịch sử truyền thống các sở, ban, ngành, các địa phương trong tỉnh; Địa chí thành phố Hải Dương, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tỉnh Hải Dương, Từ điển đường phố Hải Dương… phục vụ tuyên truyền, quảng bá về lịch sử, văn hóa, con người tỉnh Hải Dương.
Các kết quả nghiên cứu về lịch sử, văn hoá là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy hoạch bảo tồn, khai thác và phát triển các khu di tích lịch sử - văn hóa trọng điểm của tỉnh gắn với phát triển du lịch…
Trong giai đoạn 2011 - 2015, hoạt động KH&CN của tỉnh có nhiều đổi mới, đã tăng cường ứng dụng các công nghệ mới, kỹ thuật mới trong sản xuất và đời sống. Đồng thời quan tâm nghiên cứu các vấn đề khoa học xã hội và khoa học nhân văn, làm luận cứ khoa học cho việc ban hành các chính sách giải quyết các vấn đề bức xúc đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hoạt động KH&CN của tỉnh tập trung nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ KH&CN nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ phát triểnsản xuất và đời sống, kết quả các nhiệm vụ KH&CN đã được ứng dụng trong thực tiễn sản xuất và đời sống. Phần lớn các nhiệm vụ KH&CN được lựa chọn và thực hiện có giá trị thiết thực, giải quyết được nhiều vấn đề trong sản xuất và đời sống, xây dựng luận cứ khoa học phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn di sản văn hóa,…đặc biệt là những nhiệm vụ KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn đã góp phần tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, theo hướng sản xuất hàng hóa.
Trong những năm tới hoạt động KH&CN của tỉnh tập trung đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ, ứng dụng các công nghệ sinh học, công nghệ mới phù hợp với điều kiện của tỉnh. Ưu tiên cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường. Quan tâm đúng mức đến khoa học xã hội và khoa học nhân văn bảo đảm cung cấp luận cứ khoa học cho việc cụ thể hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các tổ chức khoa học công nghệ, các doanh nghiệp trong và ngoài nước để đầu tư phát triển khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của tỉnh. Khuyến khích thành lập các doanh nghiệp, tổ chức KH&CN hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm...
Phạm Văn Bình
Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương
Bài đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ số 3/2015

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912