Những vấn đề chung 2015-08-26 04:07:24

      Thực hiện Chỉ thị số 50 - CT/TWcủa Ban bí thư Trung ương Đảng (khóa IX), Tỉnh ủy Hải Dương đã ban hành Chương trình hành động số 42 - CTr/TU ngày 01/7/2005 nhằm đẩy mạnh và phát triển ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị của Ban bí thư Trung ương Đảng và Chương trình hành động của Tỉnh ủy, tỉnh Hải Dương đã đạt được một số kết quả chủ yếu sau:  

 - Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn:

Nhằm đẩy mạnh và phát triển ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) phục vụ sản xuất, đời sống,tỉnh Hải Dương đã mở rộng hợp tác với các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu của trung ương, các đơn vị nghiên cứu triển khai như: Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Viện Nghiên cứu rau quả, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, Viện Chăn nuôi, v.v..để đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng CNSH về giống cây trồng và vật nuôi, về công nghệ canh tác vào thực tiễn. Kết quả ứng dụng các tiến bộ CNSH đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản của tỉnh; tính đến năm 2014 giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã đạt 19.124 tỷ đồng/năm.
Trong lĩnh vực trồng trọt, các giải pháp khoa học về CNSH đã được áp dụng vào sản xuất có hiệu quả như: tiếp thu và làm chủ công nghệ sản xuất hạt giống lúa lai, giống lúa thuần, giống lúa kháng bạc lá; khảo nghiệm, sản xuất thử và lựa chọn được nhiều giống lúa mới phù hợp với điều kiện canh tác của tỉnh cho năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, góp phần đưa năng suất lúa bình quân của tỉnh đạt 63,2 tạ/ha/vụ vào năm 2014. Triển khai mở rộng sản xuất hàng ngàn ha từ các giống lúa mới có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao hơn các giống lúa cũ từ 7 - 15%. Đã sản xuất thử và lựa chọn được các giống cà chua, khoai tây, bí xanh, dưa hấu, dưa bở, ngô nếp cho năng suất, chất lượng cao để ứng dụng rộng rãi trong sản xuất đại trà, tạo thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Kết quả ứng dụng các tiến bộ CNSH đã góp phần đưa sản lượng cây rau mầu các loại của tỉnh đến năm 2014 đạt 663.222 tấn và giá trị sản xuất đạt 150 - 300 triệu đồng/ha/năm. Xây dựng được vườn giống cây ăn quả đầu dòng với 725 cây các loại. Áp dụng CNSH để phục tráng giống, cải tạo vườn cây ăn quả kém hiệu quả bằng công nghệ ghép chồi. Đã đưa một số giống cây ăn quả mới vào cơ cấu cây trồng của tỉnh như: thanh long ruột đỏ, ổi lê Đài Loan, ổi trắng, quýt không hạt, bưởi ngọt và chuối tiêu Hồng từ phương pháp nuôi cấy mô. Triển khai áp dụng các kỹ thuật tiến bộ về giống, chăm sóc, bảo quản, rải vụ, kéo dài thời gian thu hoạch và quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp VietGAP đối với cây vải thiều trên diện tích gần 200 ha ở Thanh Hà, Chí Linh đều cho năng suất tăng 10 - 15% và giá trị sản xuất tăng 15 - 20% so với sản xuất trước đây. Công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật được ứng dụng để nhân nhanh và đảm bảo sạch bệnh các cây thuốc như Trinh nữ Hoàng cung, Lô hội và các giống hoa lan Hồ Điệp, Đai Châu, Vũ Nữ, hoa cúc, hoa đồng tiền, v.v...cung cấp cho sản xuất đại trà. Phát triển mở rộng vùng sản xuất các giống chè mới Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên thay thế giống cũ trên địa bàn thị xã Chí Linh, cung cấp nguyên liệu cho chế biến chè, duy trì và phát triển thương hiệu trà Dược Sơn mới được xây dựng.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản: đã áp dụng các tiến bộ CNSH để kéo dài thời gian bảo quản tinh dịch lợn; phát triển một số giống lợn đực ngoại như: Landrace, Yorkshire, Piétrain RéHal, PiDu …để tạo con lai 3 - 4 máu ngoại cho phẩm chất, năng suất, chất lượng thịt tốt. Đưa các dòng lợn nái mới  VCN 21, VCN 22 vào sản xuất để năng suất và chất lượng đàn lợn thịt của tỉnh. Các giống gia cầm mới: gà lông màu, XTP1, Lương Phượng, gà Mía lai, gà ri lai, gà lai chọi, chim bồ câu Pháp; giống vịt siêu thịt C.M, Super Heavy, M3, v.v... được phổ biến cho hàng vạn hộ nông dân áp dụng, mở rộng sản xuất hàng hóa tại các huyện trong tỉnh. Từng bước xây dựng và phát triển thương hiệu “Gà đồi Chí Linh”, góp phần phát triển chăn nuôi gia cầm của tỉnh.Song song việc nuôi các giống cá truyền thồng, tỉnh đã đầu tư áp dụng CNSH xây dựng hoàn chỉnh khu sản xuất cá giống rô phi đơn tính đực lai tạo bằng công nghệ lai xa, có thể sản xuất được trên 2 triệu con giống/năm để chủ động cung cấp giống cho người dân trên địa bàn tỉnh và đang thử nghiệm nhân một số giống thủy sản đặc sản,... Đến nay các giống cá rô phi đơn tính đực, cá rô phi từ Điêu Hồng đã phát triển mở rộng ở 12 huyện, thị xã, thành phố, diện tích nuôi đã lên tới 2.502 ha, chiến 24,5% diện tích nuôi thủy sản của tỉnh, sản lượng trung bình đạt 18.000 tấn/năm. Ứng dụng các tiến bộ CNSH về giống, xử lý môi trường ao nuôi bằng công nghệ sinh học, đã góp phần duy trì diện tích nuôi thủy sản của tỉnh ở mức trên 10.000 ha, sản lượng nuôi thủy sản liên tục tăng, năm 2014 đạt 62.814 tấn. Giá trị sản xuất thủy sản dự kiến đạt 14,4% giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh vào năm 2015.
Trong lĩnh vực chế biến và bảo quản nông sản: đã áp dụng kết hợp CNSH với bảo quản lạnh để kéo dài thời gian bảo quản vải thiều, cải bắp, su lơ, cà rốt. Nhiều cơ sở, doanh nghiệp thương nhân trên địa bàn tỉnh đã áp dụng phương pháp bảo quản lạnh để xuất khẩu vải thiều, cà rốt, v.v... để vận chuyển vào các tỉnh phía Nam và xuất khẩu sang Trung Quốc. Một số doanh nghiệp đã đổi mới công nghệ trong chế biến thịt đông lạnh, sản xuất thạch rau câu xuất khẩu, v.v.Áp dụng hệ thống lò sấy tuynel, sấy cải tiến để sấy các sản phẩm hành, tỏi, bí ngô, bí xanh, khoai môn, rau gia vị v.v...đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm và xuất khẩu được trên 5.000 tấn mỗi năm.v.v. Áp dụng các tiến bộ về CNSH để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm trong sản xuất rượu ở Phú Lộc và bia ở Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Hải Dương.
- Trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân:
Thời gian qua ngành y tế đã ứng dụng các thành tựu KH&CN và CNSH trong lĩnh vực cận lâm sàng đạt kết quả tốt như: xét nghiệm huyết học bằng thiết bị Lazer tự động 26 thông số; xét nghiệm sinh học phân tử (PCR); chuẩn đoán xác định HIV bằng kỹ thuật test nhanh, kỹ thuật ngưng kết hạt (serodia) và kỹ thuật miễn dịch gắn men (Elizza); ứng dụng công nghệ  tách máu tiên tiếngóp phần giải quyết được vấn đề khan hiếm máu trong điều trị cho bệnh nhân.Trong y học hiện đại đã đẩy mạnh ứng dụng các kỹ thuật, phương pháp mới vào điều trị như: lọc máu chu kỳ và siêu lọc cấp cứu; lazer C02 điều trị bệnh ngoài da, phần mềm; phẫu thuật sọ não, thần kinh trong chấn thương và nội khoa; sử dụng thông khí dài ngày, thông khí hỗ trợ cho trẻ sơ sinh non tháng; điều trị vàng da bằng đèn chiếu cho trẻ sơ sinh; phẫu thuật tạo hình tại mọi chuyên khoa; phẫu thuật thay chỏm xương đùi; phẫu thuật nối mạch máu trong chấn thương, v.v…Nghiên cứu và đưa vào áp dụng các bài thuốc cổ truyền trong điều trị một số bệnh như đái tháo đường typ 2, điều trị các bệnh huyết áp thấp, huyết áp cao, viêm dạ dày mãn tính, tăng lipid máu, u xơ tuyến tiền liệt, viêm gan, bệnh trĩ nội độ I và độ II, viêm quanh răng, v.v… Mở rộng trồng cây Gấc và cây Trinh nữ hoàng cung thành vùng nguyên liệu phục vụ việc sản xuất thuốc y học dân tộc chữa bệnh.
-  Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên:
Xây dựng và phát triển các mô hình “Làng năng suất xanh gắn với phát triển làng nghề", “Cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường nông thôn tỉnh Hải Dương’’ tại 20 xã điểm của 5 huyện và đã trở thành mô hình trình diễn để mở rộng ra toàn tỉnh. Đến nay đã có 136 bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh được xây dựng; toàn tỉnh có 25 HTX môi trường, 226 tổ thu gom rác thải ở nông thôn. Đã nghiên cứu Áp dụng công nghệ sản xuất EM thứ cấp phục vụ xử lý môi trường chăn nuôi, thuỷ sản. Áp dụng CNSH trong xử lý rác thải tập trung của thành phố Hải Dương và công nghệ chôn lấp rác hợp vệ sinh tại các xã, thị trấn thuộc các huyện, thị xã trong tỉnh.
Ứng dụng chế phẩm sinh học xử lý rác thải đồng ruộng, xử lý rơm rạ dư thừa sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ và xử lý môi trường ao nuôi thủy sản. Đã hợp tác với Nhật Bản, triển khai áp dụng công nghệ Saibon trong xử lý nước thải sau chăn nuôi quy mô trang trại. Áp dụng kỹ thuật tiến bộ khí sinh học trong chăn nuôi, đến nay toàn tỉnh xây dựng được trên 13.000 công trình khí sinh học cho các trang trại, gia trại và hộ dân chăn nuôi gia súc góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở nông thôn.
Nghiên cứu đề xuất các biện pháp về bảo vệ, khai thác, quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái, làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Phối hợp vớidự án vừa và nhỏ tại Việt Nam (GEF/SGP/VN/99/004) thuộc quỹ môi trường toàn cầu để thực hiện bảo tồn, mở rộng khu Đảo cò Chi Lăng Nam (Thanh Miện) được 9.319 m2 . Đã tiến hành điều tra đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật khu vực Chí Linh, Kinh Môn; điều tra cây thuốc Chí Linh; áp dụng tiến bộ kỹ thuật về sinh học để bảo vệ đồi lim cổ ở đền Cao, xã An Lạc (thị xã Chí Linh). Xây dựng  và Phát triển vườn thực vật Côn Sơn, An Phụ trên diện tích 55,5 ha với 424 loài, 28.412 cá thể thực vật đại diện cho các vùng trong cả nước, trong đó, có 24 loài quý, hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Khôi phục rừng dẻ tái sinh ở thị xã Chí Linh; bảo tồn và phát triển vùng đặc sản rươi tại các huyện có vùng nước lợ trong tỉnh như Tứ Kỳ, Thanh Hà, Kinh Môn, Kim Thành.
Qua 10 năm 2005 - 2015 thực hiện Chỉ thị số 50 - CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX), tỉnh Hải Dương đã thu được nhiều kết quả trong việc đẩy mạnh và phát triển ứng dụng CNSH phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá.Từ những kết quả đã đạt được trong thời gian qua, chắc chắn trong những năm tới tỉnh Hải Dương sẽtiếp tục đẩy mạnh và phát triển ứng dụng phục vụ có hiệu quả sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa./.
Nguyễn Duy Hưng
Bài đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ số 4/2015

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912