Khoa học quản lý 2015-08-26 04:04:49

          Hát trống quân là một trong những loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian điển hình ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Theo một số nhà nghiên cứu thì có hai giả thuyết về sự hình thành trống quân. Thứ nhất, hát trống quân có từ thời Trần (TK XIII) vào thời kỳ chống Nguyên - Mông. Thứ hai, hát trống quân xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII, khi vua Quang Trung tiến ra Bắc đánh đuổi quân Thanh. Còn tại xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, lại có truyền thuyết rằng: Hát trống quân có thể được sáng tạo từ thời Hai Bà Trưng. Khi đó có nàng Tam Nương được Hai Bà Trưng phong làm Tả đạo tướng quân, sau khi đánh xong Tô Định ở thành Luy Lâu vào tháng Giêng, Tam Nương mở hội khao quân, có rất nhiều trò chơi dân gian, trong đó có trò mới đó là nam binh đánh trống hát đối với nữ binh, vì thế gọi là Hát trống quân của Tam Nương, sau gọi tắt là hát trống quân.

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, ở Hải Dương có nhiều nơi có hát trống quân như: Cẩm Giàng, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Bình Giang, Thanh Miện, Ninh Giang... Cho đến nay, ở các huyện, thị khác không còn hát trống quân, riêng ở xã Thúc Kháng (Bình Giang) thì nhân dân tại 2 thôn Ngọc Cục và Tào Khê vẫn lưu giữ được loại hình nghệ thuật này. Theo tư liệu lịch sử và truyền ngôn tại địa phương, thì trung tâm Hát trống quân của Hải Dương là thôn Tào Khê, sau là Ngọc Cục và Châu Khê. Cho đến trước năm 1945, Tào Khê là một giáp của xã Ngọc Cục, thuộc tổng Ngọc Cục, huyện Bình Giang, thường gọi là giáp Tào. Ngày nay, Ngọc Cục và Tào Khê là 2 thôn thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang.
Theo tư liệu khảo sát tại địa phương, hát trống quân cùng với ca trù ở Tào Khê, Ngọc Cục có từ rất sớm, đến cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII có bà Nguyễn Thị Mỹ, hiệu là Thiện Tự Tôn Linh (nhân dân địa phương gọi là bà Chúa Tào), là con gái cụ Quỳnh Thọ Hầu Nguyễn Danh Quán, nổi tiếng hát hay, tương truyền khi chúa Trịnh đi kinh lý qua làng, bà đang cắt cỏ ở cánh đồng Tào và đã hát:
“Tay cầm bán nguyệt xênh sang
Trăm ngàn ngọn cỏ lai hàng tay ta”
Chúa Trịnh thấy điệu hát hay lại có ý tứ sâu xa khác thường, đã đưa bà về cung lấy làm thiếp, bà đã dạy cung nữ hát ca trù và trống quân. Từ đó giáp Tào trở thành cái nôi của hai loại hình nghệ thuật hát ca trù và hát trống quân của huyện Đường An. Bà chúa Nguyễn Thị Mỹ được nhân dân địa phương coi là vị tổ của ca trù và trống quân.
Trước Cách mạng Tháng Tám, ở Ngọc Cục, Tào Khê và Châu Khê có nhiều người hát trống quân và thường đi hát giao lưu với các làng xã lân cận. Đặc biệt là hội hát vào các đêm dịp Rằm tháng 8 với làng Đào Xá (tên nôm là Đầu Quạt, nay thuộc xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi, Hưng Yên) bên bờ sông Cửu An. Làng Đào Xá thời Đồng Khánh vốn thuộc tổng Ngọc Cục, huyện Đường An, năm 1890 do thay đổi địa lý hành chính, Đào Xá chuyển về thuộc huyện Ân Thi (Hưng Yên) nên tuy thuộc 2 tỉnh khác nhau nhưng vì có mối liên hệ do yếu tố lịch sử nên nhân dân Tào Khê, Ngọc Cục và Đào Xá vẫn có mối liên hệ thân thiết với nhau.
Năm 2013, UBND xã Thúc Kháng ra quyết định thành lập 2 câu lạc bộ (CLB) Trống quân của xã gồm CLB thôn Ngọc Cục (33 nghệ nhân) và CLB thôn Tào Khê (25 nghệ nhân), lấy đình làng Ngọc Cục và Nhà văn hoá thôn Tào Khê, đình Tào Khê làm địa điểm sinh hoạt thường xuyên hàng tuần. Trong năm này, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức nghiên cứu xây dựng hồ sơ di sản văn hóa nghệ thuật hát trống quân đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đã hỗ trợ địa phương phục dựng lại đêm hội hát trống quân Rằm tháng 8 bên sông Cửu An, nhân dân các thôn khác trong xã và cả thôn Đào Xá (Hưng Yên) cũng đến dự hội trống quân.
Hát trống quân dùng thể thơ 6/8 là thể thơ rất phổ biến trong văn học và dân ca Việt Nam. Có hai lối hát: Hát chải và hát bồi, ở mỗi lối hát có quy tắc riêng về làn điệu và câu chữ. Hát trống quân là lối hát đối đáp, một bên hỏi, một bên đáp theo các nội dung: Chào hỏi, mời nhau hát, mời nước, mời trầu, hát đối, hát họa, hát giã bạn... Thường sử dụng các bài hát có sẵn, nhiều khi ứng tác, khi hát có người đứng bên cạnh gợi ý gọi là xui hát.
Phương thức của hát trống quân là hát vận:
“Trống quân hát vận mình ơi
Sao người chẳng vận cho tôi vận cùng”
Hát vận tức là hát hiệp vần giữa đôi bên trai gái, nam hát vần trắc, nữ hát vần bằng, nam xướng, nữ họa. Thoạt đầu bên nam hát trước, dài hay ngắn đều phải dừng lại ở câu 8, sau đó nữ hiệp vận tiếp theo và bắt đầu bằng câu 6, chữ thứ 6 buộc phải hiệp vận với chữ thứ 8 của câu bên nam:
Nam:
“Tôi xin các bác đừng cười
Để tôi đối đáp với người đường xa”
Nữ:
“Tôi xin các bác giãn ra
Đàn ông một chốn đàn bà một nơi”
Điểm đặc biệt của hát trống quân là loại nhạc cụ được dùng khi hát, theo các cụ cao tuổi ở Tào Khê và Ngọc Cục cho biết thì trống quân cổ là trống đất, cấu tạo của trống gồm dây, cọc, cột quân, hố đất, nắp đậy lên miệng hố làm mặt trống. Cách thức chế tác trống cũng khá đặc biệt: Trên một đám đất ở sân hoặc bờ đê ven sông, người ta đào một hố sâu khoảng 50 - 60 cm theo kiểu hàm ếch, sau đó cho vỏ ốc nhồi vào, những vỏ ốc có tác dụng khuyếch đại âm thanh. Trên miệng đặt một mâm gỗ (sau này có khi dùng mâm đồng) sao cho thật khít với miệng hố để làm mặt trống, chôn hai chiếc cọc ở hai bên hố và căng một sợi dây mây qua mặt trống, chính giữa mặt trống dùng một chạc gỗ (gọi là cột quân) chống giữa mặt trống và dây. Khi đánh trống dùng một que gỗ dài khoảng 25 cm gõ lên dây, âm thanh truyền qua cột quân xuống mặt trống, truyền xuống hố và tạo nên tiếng “thùng, thình”.
Nghệ thuật hát trống quân cho thấy sự phong phú, hấp dẫn của âm nhạc dân gian, vừa thể hiện sự dân dã, mộc mạc của làn điệu, của âm nhạc, vừa thể hiện sự trí tuệ, tài hoa, trong việc sử dụng ngôn từ, câu chữ, trong việc ứng tác của các nghệ sĩ dân gian, vì ngoài khả năng ca hát, họ còn là những người giàu vốn từ ngữ, vốn hiểu biết thơ ca, văn học dân gian, điển tích lịch sử..., đặc biệt là sự xuất hiện của những “người xui” trong mỗi đám hát. Ngôn từ, câu chữ trong hát trống quân mang đặc trưng của văn học truyền miệng là hiện tượng “tam sao thất bản” với nhiều dị bản được sáng tạo thêm từ một bài hát vốn có. Lời hát trống quân chứa đựng cả một kho tri thức dân gian phong phú về phong tục tập quán của cộng đồng, về tín ngưỡng dân gian, các tri thức, kinh nghiệm dân gian về thời tiết, mùa vụ, sinh vật...
Hiện tại nghệ thuật hát trống quân tại xã Thúc Kháng vẫn còn những bậc cao tuổi am hiểu sâu về nghệ thuật trống quân, lưu giữ được số lượng lớn các bài hát trống quân và nhiệt tình tâm huyết trong việc trao truyền vốn quý di sản cho thế hệ trẻ như các cụ Bùi Xuân Ngựu 93 tuổi, cụ Phạm Văn Huyên, Bùi Bình Trọng, Bùi Văn Năm, Đào Thị Ngân, Đào Thị Min... là những người thuộc nhiều bài hát, lối hát và có khả năng truyền dạy. Các nghệ nhân lão làng còn có các hoạt động truyền dạy trống quân tại một số địa phương nhằm phục hồi loại hình nghệ thuật này trong không gian lễ hội truyền thống như: Lễ hội đền - đình Sượt (TP.Hải Dương) và Lễ hội đền Đươi (Gia Lộc).
Tuy đã có sự quan tâm tạo điều kiện của chính quyền địa phương nhưng hát trống quân cũng không nằm ngoài tình trạng chung của các loại hình nghệ thuật truyền thống khác: những người nắm giữ tri thức dân gian phần nhiều đã cao tuổi nên nguy cơ mai một các tri thức dân gian về bài bản, kỹ năng, nghệ thuật trình diễn là hiện hữu, cơ sở vật chất, trang thiết bị hạn chế, chưa có chính sách đãi ngộ cho các nghệ nhân cũng như khuyến khích thế hệ trẻ tham gia bảo tồn di sản. Bảo tồn được di sản của địa phương còn có tác dụng tích cực trong xây dựng phong trào văn hoá, văn nghệ, khuyến khích và định hướng cho cộng đồng dân cư địa phương hướng tới các giá trị văn hóa tích cực, lành mạnh, góp phần xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, xây dựng đời sống nông thôn mới.
Bài và ảnh Bùi Văn Đạt
Bài đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ số 4/2015
 
 
 
 
 
 
 

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912