Khoa học quản lý 0000-00-00 00:00:00

Từ năm 2012 đến năm 2015, các dự án về cây rau màu thuộc Chương trình "Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phát triển sản xuất nông sản hàng hóa góp phần xây dựng nông thôn mới tỉnh Hải Dương" đãtập trung vào xây dựng thành công các mô hình sản xuất tập trung quy mô hàng hóa, sản xuất trình diễn, sản xuất thửcác giống rau mầutiến bộ kỹ thuật và áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất và chất lượng nông sản; nghiên cứu, thử nghiệm lựa chọn các giải pháp KHCN, các giống cây rau màu mới phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh.

Sau 04 năm mô hình sản xuất rau màu đã thực hiện được diện tích 638,3 ha ở 37 xã thuộc 9 huyện và thị xã Chí Linh, trên tổng diện tích trồng trọt thực hiện các mô hình của Chương trình là 1.667,45 ha; các mô hình sản xuất thử đã lựa chọn được 12 giống cây rau màuphù hợp với điều kiện của tỉnh để đưa vào cơ cấu cây rau màu của tỉnh như các giống: khoai tây Sinora, bí xanh số 1, bí xanh số 2,ngô nếp lai HN88, …Việc đưa các tiến bộ khoa học và công nghệ áp dụng vào sản xuất cây rau màu đã góp phần thúc đẩy và từng bước tạo lập vùng sản xuất cây rau màu chuyên canh tập trung bền vững ở một số địa phương: Đồng Gia, Kim Tân, Kim Đính (huyện Kim Thành); Toàn Thắng, Gia Lương, Gia Xuyên, Đồng Quang, Đoàn Thượng (huyện Gia Lộc); Tái Sơn, Hưng Đạo, Đại Đồng, Ngọc Sơn (huyện Tứ Kỳ); Nam Hưng, Nam Tân (huyện Nam Sách), ... Hiện nay, các mô hình đã và đang tiếp tục được duy trì phát triển, làm tăng thu nhập, phát triển kinh tế nông hộ, góp phần từng bước xây dựng thành công nông thôn mới ở các địa phương. Sau 04 năm thực hiện cũng đặt ra một số vấn đề định hướng trong sản xuất cây rau màu trong những năm tới.
- Mô hình cây bí xanh:
Giống bí xanh số 2 là giống mới do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn tạo, sinh trưởng phát triển phù hợp với điều kiện canh tác của tỉnh, có năng suất cao, chất lượng tốt; quả bí xanh số 2 mang một số đặc điểm như cùi dày, cùi màu xanh, hình dạng quả thon dài đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng hơn hẳn giống bí xanh Sặt. Năm 2012 - 2013, Chương trình đã triển khai 89,3 ha bí xanh số 2 trong 02 vụ đông xuân và thu đông. Do có nhiều lợi thế về năng suất, chất lượng và thị trường tiêu thụ nên người dân mở rộng diện tích trồng giống bí xanh số 2 hơn giống bí xanh Sặt. Tuy nhiên, gần đây, do ảnh hưởng của thời tiết bất thuận:  Vụ đông xuân nhiều năm nay thường hay gặp bão ở cuối tháng 10 gây mưa to, gió lớn; vụ thu đông thường có thời gian ở đầu vụ (ở giai đoạn cây con trong bầu và giai đoạn đầu sinh trưởng dinh dưỡng) thường gặp thời tiết có gió tây nam hoạt động mạnh, mưa nhiều, ẩm độ trung bình 80 - 92%. Đặc biệt trong những năm gần đây do ảnh hưởng của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu nên thường có mưa to cục bộ, nắng nóng bất thường, nhiều đợt rét hại xuất hiện và không theo quy luật nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến cánh tác giống bí xanh ngoài đồng ruộng. Thực tiễn đòi hỏi các nhà khoa học phải tiếp tuc nghiên cứu hoàn thiện quy trình canh tác, giống, thời vụ, ... để phát huy được tối đa và duy trì ổn định tiềm năng năng suất cây trồng trong điều kiện thời tiết bất thuận.
- Khoai tây Sinora:
Mô hình sản xuất giống khoai tây Sinora vụ xuân đã thực hiện năm 2012 với diện tích 20 ha, cho năng suất trung bình đạt 19,3 tấn/ha. Tổng lượng khoai tây giống sản xuất ra là 300 tấn, chiếm 78% tổng lượng khoai tây sản xuất ra. Mô hình đã góp phần giúp các địa phương chủ động về lượng khoai tây giống cho vụ sau và  hạ giá thành giống. Sau khi có kết luận của đề tài sản xuất giống khoai tây Sinora vụ xuân cung cấp cho trồng vụ đông ở tỉnh Hải Dương, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã nhân rộng mô hình với diện tích 304 ha ở 16 xã thuộc các huyện Tứ Kỳ, Gia Lộc, Thanh Hà, Ninh Giang và Nam Sách góp phần đảm bảo cung cấp giống tốt sạch bệnh giúp tăng diện tích sản xuất khoai tây vụ đông của tỉnh.
Mô hình sản xuất khoai tây Sinora thương phẩm đã thực hiện trên diện tích 55ha, năng suất trung bình 19 - 19,5 tấn/ha, cho thu nhập lãi thuần trên 100 triệu đồng/ha. Nhờ việc thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật như trồng đảm bảo khung thời vụ, kỹ thuật chăm bón kết hợp với sử dụng rơm, rạ được xử lý bằng chế phẩm vi sinh Biomix RR góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất khoai tây Sinora thương phẩm. Qua việc thực hiện mô hình sản xuất khoai tây Sinora thương phẩm tập trung đã giúp các địa phương nhìn nhận thấy vai trò, ý nghĩa hiệu quả kinh tế của việc sử dụng giống sạch bệnh và quy vùng sản xuất tập trung cây rau màu vụ đông, trong đó có cây khoai tây.Tuy nhiên, việc duy trì sản xuất và mở rộng diện tích trồng khoai tây thương phẩm vụ thu đông còn gặp nhiều khó khăn do rất nhiều nguyên nhân trong đó có một số nguyên nhân chính: cây khoai tây đồi hỏi về điều kiện đất đai, phân bón khắt khe hơn so với một số cây rau màu khác, điều kiện thời tiết bất thuận đầu vụ ảnh hưởng đến việc làm đất, giá bán sản phẩm không ổn định, đầu tư về giống lớn, thị trường tiêu thụ chưa được mở rộng, ...
- Dưa chuột Nếp 1, dưa bở vàng thơm số 1, dưa hấu:
Chương trình đã xây dựng thành công 56 ha dưa chuột nếp 1 tại 8 xã. Giống dưa chuột nếp 1 do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn tạo, sinh trưởng phát triển tốt, năng suất đạt 33 - 38 tấn/ha, cho lãi thuần 100 - 120 triệu đồng/ha. Lãi thuần gấp 1,58 - 1,68 lần so với mô hình trồng giống dưa chuột của địa phương. Cây dưa chuột Nếp 1 được đưa vào trồng ở một số địa phương giúp cho các địa phương đa dạng hóa cây rau màu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải vụ. Hiện tại, dưa chuột Nếp 1 vẫn được duy trì ở các địa phương tham gia Chương trình và mở rộng ra một số xã ở các huyện Gia Lộc, Nam Sách, góp phần tăng dần diện tích dưa chuột của tỉnh.
Mô hình sản xuất dưa bở vàng thơm số 1 với diện tích 35 ha, sinh trưởng phát triển phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương, năng suất đạt 28,2 - 28,9 tấn/ha, cho lãi thuần khoảng 121,38 - 124,88 triệu đồng/ha, cao gấp 1,65 đến 1,87 lần so với mô hình của dân. Hiện nay giống dưa bở vàng thơm số 1 vẫn được các hộ dân các huyện: Tứ Kỳ, Kim Thành, Gia Lộc và thị xã Chí Linh duy trì và mở rộng diện tích trồng lên 256,4 ha.
Mô hình dưa hấu: Chương trình đã lựa chọn 2 giống: dưa hấu Thúy đào 169 và Super Hoàn Châu. Hai giống sinh trưởng phát triển tốt, phù hợp với điều kiện của địa phương. Năng suất trung bình đạt 33 - 36 tấn/ha. Đem lại lãi thuần từ 67 - 94 triệu đồng/ha, cao gấp 1,2 lần so với mô hình sản xuất dưa hấu của dân.Giống dưa hấu Super Hoàn Châu có nhiều ưu điểm hơn dưa hấu lai Thúy đào 169 như thời gian sinh trưởng và các yếu tố canh tác khác phù hợp với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng và khí hậu của đa số các huyện trên địa bàn tỉnh, quả có kích thước vừa phải, vỏ dầy dễ vận chuyển, bán được giá nên Chương trình kiến nghị mở rộng diện tích theo hướng sản xuất hàng hóa đối với giống dưa hấu Super Hoàn Châu ra các địa phương khác trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, sản xuất 3 loại dưa quả trên cũng gặp rất nhiều khố khăn như do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết bất thuận dấn đến năng suất và chất lượng thương phẩm dưa quả không ổn định; thị hiếu người tiêu dung ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm đã tạo sức ép cho người sản xuất ngày càng phải vươn lên. Để duy trì pháp triển mô hình sản xuất các giống dưa nên chăng cần định hướng cho bà con nông dân sản xuất áp dụng quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGap) sản xuất rau quả an toàn, tiến tới sản xuất rau quả sạch; có thể thử nghiệm và đánh giá hiệu quả của mô hình sản xuất dưa chuột, dưa bở vàng thơm  trong điều kiện nhà màng đơn giản áp dụng một số kỹ thuật tưới nước và dinh dưỡng cân đối đểtạo sản phẩm dưa quả chất lượng cao.
- Cây ngô
Chương trình đã lựa chọn các giống ngô nếp lai sinh trưởng phát triển tốt, có năng suất cao: MX 10, Wax 48, HN 88 và ADI 600 để triển khai mô hình sản xuất và áp dụng phương pháp trồng ngô không làm đất với 155 ha đã được triển khai trồng ở một số xã thuộc 4 huyện và thị xã Chí Linh. Đặc biệt, khi áp dụng phương pháp làm đất tối thiểu kết hợp đặt bầu chỉnh tán lá đã đạt yêu cầu: Tăng số cây/đơn vị diện tích; tiết kiệm công làm đất, công phun thuốc cỏ; tận dụng được rơm rạ làm phân bón; tiết kiệm được nước tưới; tăng năng suất ngô. Năng suất ngô đạt trung bình 12,5 - 12,8 tấn/ha. Đem lại thu nhập trung bình 38 - 44 triệu đồng/ha. Hiện nay do nhu cầu của thị trường nên Chương trình khuyến cáo 02 giống ngô HN 88 và ADI 600 cần tiếp tục được mở rộng nhiều hơn.
Trên địa bàn tỉnh hiện nay chủ yếu phát triển trồng các giống ngô nếp bán để ăn tươi. Tuy nhiên về lâu dài tỉnh cần có quy hoạch vùng sản xuất ngô hạt (ngô tẻ) tập trung đảm bảo chất lượng, từng bước áp dụng tiến bộ kỹ thuật đột biến gen trong sản xuất ngô để tạo vùng nguyên liệu ổn định phục vụ các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi góp phần giảm bớt nhập khẩu ngô nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi. Để tiết giảm công lao động các địa phương cần mở rộng mô hình áp dụng phương pháp làm đất tối thiểu kết hợp đặt bầu chỉnh tán lá trong trồng ngô.
Sau 04 năm thực hiện mô hình sản xuất cây rau màu đã đạt được những thành quả nhất định. Để tiếp tục duy trì phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho người nông dân tại các địa phương trong tỉnh trong những năm tới cần phải có sự cố gắng của người nông dân, sự vào cuộc của các cấp, các ngành. Về lâu dài tỉnh cần có cơ chế thúc đẩy phát triển nông thôn mới bền vững, mở rộng thị trường tiêu thụ thụ nông sản, cơ chế huy động các nguồn lực xã hội, doanh nghiệp, nông dân tham gia ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất nông sản hàng hoá góp phần xây dựng nông thôn mới một cách đồng bộ và bài bản hơn nữa.
KS.Vũ Văn Tân
Phó giám đốc Trung tâm Ứng dụng TBKH tỉnh Hải Dương
Bài đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Hải Dương số 3 ra tháng 6/2016

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912