Khoa học quản lý 2016-01-05 01:24:42

Theo Nghị quyết số 29 Hội nghị lần thứ VIII BCH TW khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, giáo dục là nhằm hình thành những năng lực, phẩm chất cho người học. Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã lựa chọn đổi mới cách đánh giá học sinh tiểu học với sự ra đời của Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 (gọi tắt là Thông tư 30) có hiệu lực ngày 15/10/2014. Thông tư ra đời khắc phục những hạn chế trong cách đánh giá, xếp loại học sinh tiểu học trước đây: nặng nề về điểm số, gây nhiều áp lực cho học sinh cũng như các bậc phụ huynh.

Tuy nhiên, Thông tư 30 cũng xuất hiện hạn chế như: Hình thức đánh giá thường xuyên bằng nhận xét thay điểm số có ảnh hưởng đến chất lượng học của học sinh? Đặc biệt là hệ thống hồ sơ đi kèm theo Thông tư 30 đang là nỗi lo lắng, ám ảnh đè nặng lên vai người giáo viên (GV) Tiểu học; GV không còn thời gian để tâm huyết đầu tư đổi mới phương pháp và hình thức dạy học để nâng cao chất lượng? Làm thế nào để phối hợp với cha mẹ học sinh trong việc đánh giá; Sự cồng kềnh về hồ sơ, ghi chép nhận xét mang tính hình thức gây lãng phí thời gian, kinh phí của các nhà trường...
Qua thực tế thì khó khăn và trở ngại lớn nhất khi đánh giá học sinh tiểu học (HSTH) theo Thông tư 30 là nhận thức của cha mẹ học sinh, cộng đồng xã hội và năng lực của đội ngũ giáo viên đứng lớp. Bà Phạm Thị Lộc, hiệu trưởng Trường Tiểu học Lương Điền (Cẩm Giàng) đã đưa ra sáng kiến để giáo viên “Nâng cao năng lực đánh giá học sinh Tiểu học theo Thông tư 30/2014”. Để làm được việc đó cần:
Tập huấn 100% cán bộ quản lý, giáo viên đứng lớp để nâng cao năng lực đánh giá học sinh theo Thông tư 30:
Tập huấn cho giáo viên là hết sức quan trọng, GV phải hiểu, đánh giá thường xuyên bằng nhận xét là vì quyền lợi của người học chứ không phải vì quyền lợi của người dạy. Tác giả đã soạn thảo nội dung tập huấn kỹ lưỡng gồm cả lý thuyết và thực hành đánh giá trên bài học cụ thể, dự kiến những thắc mắc, khó khăn của giáo viên cần phải giải đáp trong buổi tập huấn. Saubuổi tập huấn, nhiều GV đã nắm được tính mới, tính mở của Thông tư 30, chủ động tiếp cận để hiểu đúng mục đích, nội dung, nguyên tắc và cách thức đánh giá.
Cán bộ quản lý cùng “trải nghiệm” với GV, là nòng cốt chuyên môn khi thực hiện Thông tư 30:
Tổ chức tập huấn và triển khai tới từng GV việc làm cụ thể như: Dựa vào mục tiêu bài học, tuần học để xác định mỗi nội dung đánh giá nhằm mục tiêu phát triển toàn diện. Ban giám hiệu tăng cường dự giờ trên lớp để phát hiện kịp thời điều chỉnh tháo gỡ những khó khăn với GV trong quá trình thực hiện. Hướng dẫn GV phân loại học sinh cần được ưu tiên đánh giá nhận xét của GV như: học sinh xuất sắc hoặc hạn chế, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, học sinh khuyết tật tham gia học hòa nhập hay những học sinh có thay đổi bất thường đang học tốt bỗng sa sút hoặc học chưa tốt bỗng tiến bộ bứt phá... không gây áp lực cho GV trong quá trình thực hiện.
Phát huy “trí tuệ tập thể” để trao đổi kinh nghiệm kỹ thuật đánh giá, nhận xét từng môn học và hoạt động giáo dục: Chỉ đạo đổi mới sinh hoạt các tổ chuyên môn, tổ chức các buổi hội thảo để phát huy trí tuệ tập thể trao đổi kỹ năng nhận xét, đánh giá từng môn học và hoạt động giáo dục giúp giáo viên đưa ra lời nhận xét của mình sao cho phù hợp.
Chỉ đạo “linh hoạt” để giúp GV giảm áp lực khi thực hiện Thông tư  30: Việc nhận xét là ghi nhận những tiến bộ, thành công của HS nhằm động viên các em phấn đấu vươn lên trong học tập, kịp thời góp phần bồi dưỡng động cơ học tập đúng đắn. Không nên quy định thời điểm nhận xét, số lượng HS phải nhận xét/tháng mà giao quyền cho GV chủ động trên đối tượng HS của lớp mình đảm bảo chất lượng, HS phải tiến bộ. Với cách chỉ đạo linh hoạt như trên, GV không bị áp lực, nặng nề khi thực hiện Thông tư 30.
Phối hợp với cha mẹ học sinh trong quá trình đánh giá để nâng cao vai trò của “Giáo dục gia đình” đối với học sinh Tiểu học:
Một trong những điểm mới của Thông tư 30 trong đánh giá học sinh Tiểu học là có sự tham gia của cha mẹ học sinh (hoặc người giám hộ). Thông tư 30 đã đề cao vai trò của “Giáo dục gia đình” đối với trẻ để trẻ hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất theo đúng hướng mong muốn. Do đó mỗi GV phải là một nhà tư vấn giúp cha mẹ các em làm tốt vai trò “Giáo dục gia đình” đặc biệt là vùng nông thôn. Cụ thể: Cha mẹ các em phải biết gia đình chính là nơi an toàn nhất cho trẻ. Tạo môi trường chăm sóc, giáo dục thuận lợi, cha mẹ cần tạo bầu không khí yêu thương đoàn kết gắn bó, quan tâm giữa các thành viên trong gia đình để cho các em luôn có cảm tưởng rằng ngôi nhà của mình chính là tổ ấm. Việc chăm sóc phát triển trí tuệ cho các em có quan hệ chặt chẽ với việc giáo dục, môi trường giáo dục nhà trường là quan trọng song gia đình mới là trường học đầu tiên và suốt đời của các em. Do vậy khi những em có thiên hướng xuất hiện môt số năng khiếu cha mẹ phải biết phát hiện, khuyến khích tạo điều kiện để ươm mầm tài năng. Ví dụ: Mỹ thuật (vẽ), Âm nhạc (hát, múa, đàn.) ... mà không nhất thiết cứ phải là môn Toán, tiếng Việt...Để thực hiện tốt chức năng giáo dục gia đình, mỗi thành viên trong gia đình phải trở thành tấm gương sáng để các em học tập, làm theo. Xã hội hiện đại cùng với nhịp sống hiện đại, năng động đã kéo mỗi cá nhân theo dòng chảy công việc. Song cần dành thời gian trò chuyện, chia sẻ với con trẻ. Do vậy, GV cần phải làm tốt vai trò tư vấn cho phụ huynh quy định những việc các em cần phải tham gia giúp đỡ gia đình, lao động tự phục vụ bản thân “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình”. Ví dụ:
Lớp 1: Biết nhặt rau, gấp quần áo, tham gia dọn dẹp nhà cửa cùng người lớn, sắp xếp đồ chơi, đồ dùng học tập gọn gàng, ngăn nắp...
Lớp 2: Ngoài việc làm đối với lớp 1, các em còn phải biết trông em (nếu có) khi bố mẹ bận, quét dọn nhà cửa, tự tắm rửa...
Ngoài ra còn phải vâng lời ông bà cha mẹ, lễ phép với những người lớn tuổi, quan tâm, chăm sóc người thân trong gia đình...Dựa vào đó để phụ huynh đánh giá thường xuyên các em thông qua sổ liên lạc, qua điện thoại, gmail..., sau đó giáo viên thu thập đánh giá của phụ huynh hàng tháng và xử lí thông tin đánh giá của cha mẹ các em như động viên khích lệ học sinh có nhiều cố gắng, nhắc nhở, hướng dẫn những em chưa cố gắng (giáo dục nêu gương), từ đó giúp các các em tự tin để hướng tới giá trị sống tốt đẹp.
- Để giải tỏa nỗi lo lắng của cha mẹ học sinh khi đánh giá thường xuyên các môn học không sử dụng điểm số, giáo viên phải thuyết phục cho phụ huynh an tâm. Đối với HSTH, giáo dục tình thương (giáo dục bằng lời) là rất quan trọng có tính bền vững, những lời nhận xét chân tình của thầy cô sẽ là dấu ấn theo các em suốt cả cuộc đời. 
- Cuối học kỳ I khi bình bầu, tuyên dương, khen thưởng học sinh, yêu cầu GV chủ nhiệm mời Ban đại diện cha mẹ học sinh của lớp mình tham dự bình xét cùng học sinh và giáo viên.
Thiết kế sổ “Nhật ký lớp học”, sổ “Theo dõi chất lượng giáo dục” thử nghiệm thay thế sổ “Theo dõi chất lượng giáo dục” theo mẫu của Bộ GD&ĐT giúp GV giảm nhẹ về hồ sơ sổ sách, thủ tục hành chính
Đây là vấn đề bức xúc của phần lớn GV đặc biệt là GV bộ môn. Để tránh lãng phí thời gian ghi chép mà hiệu quả giáo dục không được phát huy. Để giải phóng cường độ “lao động ghi chép” của GV và tiết kiệm thời gian, trên cơ sở mẫu sổ của Bộ GD&ĐT, tác giả đã nghiên cứu thiết kế hai mẫu sổ “Nhật ký lớp học” và “Sổ theo dõi chất lượng giáo dục” nhằm thay thế “Sổ theo dõi chất lượng giáo dục” dành cho GV chủ nhiệm, GV bộ môn và đã tiến hành thử nghiệm trên khối lớp 5 và đạt hiệu quả cao.
Sổ “Nhật ký lớp học”gồm 2 phần: Những thông tin về học sinh của lớp và Nhật ký đánh giá nhận xét hàng ngày của giáo viên giảng dạy.
- Hướng dẫn sử dụng: Để tại lớp học.Phần những thông tin của học sinh trong lớp giáo viên đánh bằng vi tính và đính kèm vào sổ. Nhật ký đánh giá nhận xét hàng ngày của giáo viên được thiết kế  theo từng tuần, được chia làm 5 cột.
- Việc này có tác dụng: Sổ dùng chung cho giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn, mỗi lớp 1 quyển. Khác với Sổ theo dõi chất lượng giáo dục của Bộ, trường có 15 lớp nhưng có tới hàng trăm quyển “Sổ theo dõi chất lượng giáo dục” của giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm. Trường giảm được kinh phí phải mua nhiều sổ cho giáo viên.
+ Sổ để tại lớp: Đến tiết dạy của giáo viên nào thì giáo viên đó sử dụng đánh giá. Điều đó đã giúp giáo viên bộ môn không phải “mang vác” nhiều sổ trong một ngày đến trường.
+ Cuối tuần: Căn cứ vào các nhận xét, chứng cứ của sổ “Nhật ký lớp học”, giáo viên chủ nhiệm sẽ có những đánh giá toàn diện về học sinh trong tiết sinh hoạt lớp. Cuối mỗi tháng giáo viên chủ nhiệm có căn cứ để đánh giá học sinh ghi vào sổ liên lạc thông báo cho gia đình mà không cần tham khảo ý kiến giáo viên bộ môn.
+ Cuối mỗi học kỳ: Căn cứ vào sổ “Nhật ký lớp học” để giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn thống nhất nhận xét vào “Sổ theo dõi chất lượng giáo dục” cho từng học sinh.
Sổ theo dõi chất lượng giáo dục gồm 4 phần: Hướng dẫn sử dụng; Những thông tin về học sinh của lớp; Tổng hợp đánh giá của từng học sinh theo mỗi học kỳ; Tổng hợp đánh giá học sinh cả lớp.
- Tác dụng: Sổ dùng chung cho giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn, mỗi lớp 1 quyển, giảm được về số lượng sổ và tiết kiệm kinh phí. Cuối mỗi học kỳ, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn thống nhất nhận xét vào “Sổ theo dõi chất lượng giáo dục” cho từng học sinh. Căn cứ vào đó để ghi học bạ cho học sinh. Do vậy tính tích hợp giữa các cuốn sổ rất cao và hiệu quả.
Với mẫu Sổ theo dõi chất lượng giáo dục của Bộ, giáo viên phải ghi chép nhận xét hàng tháng với mỗi học sinh làm lãng phí thời gian, tốn kém kinh phí đặc biệt là giáo viên bộ môn. Ngược lại, khi được thay thế bởi 2 cuốn sổ được thiết kế và hướng dẫn sử dụng như trên, giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm được giảm nhẹ thủ tục hành chính, hồ sơ sổ sách không cồng kềnh. GV giảng dạy khối 5 đã tiết kiệm được ½ thời gian lao động để ghi nhận xét hàng tháng so với giáo viên khối lớp 1+2+3+4.
Lợi ích, hiệu quả của sáng kiến: Nhận thức của CBQL, GV, cha mẹ học sinh và cộng đồng dân cư ở địa phương về Thông tư 30 thay đổi. Họ hiểu được những ưu điểm của Thông tư 30 mang lại “đánh giá vì sự tiến bộ của HS với chính bản thân các em” giúp HS tự tin đặc biệt đối với những học sinh gặp khó khăn trong học tập.Học sinh được giảm áp lực về điểm số từ phía phụ huynh và cộng đồng.GV không bị áp lực về hồ sơ sổ sách, cường độ lao động, giáo viên dạy khối 5 giảm ½ thời gian ghi đánh giá nhận xét vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục so với ban đầu, dành tiết kiệm được thời gian đầu tư nghiên cứu nâng cao  trình độ chuyên môn, nâng cao chất lượng giảng dạy.Tạo được sự đồng thuận giữa giáo viên và cha mẹ học sinh. Mối quan hệ giáo dục Nhà trường - Gia đình và Xã hội được gắn kết chặt chẽ.Tiết kiệm được thời gian của GV vì ghi chép lời nhận xét hàng tháng trong sổ theo dõi chất lượng giáo dục ban đầu. Giảm thiểu sự cồng kềnh về hồ sơ của giáo viên, tiết kiệm kinh phí hàng năm trong việc mua sổ theo dõi chất lượng giáo dục. Chất lượng giáo dục toàn diện được giữ vững và từng bước nâng lên.
Đổi mới đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư 30 là một chủ trương đúng đắn, đầy tính nhân văn, đánh giá vì sự tiến bộ và vì quyền lợi của học sinh. Tuy nhiên, Thông tư 30 cần được quan tâm, bổ sung và điều chỉnh để phù hợp và đem lại hiệu quả thiết thực hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục từ cấp học đầu tiên, tạo tiền đề vững chắc cho các cấp học cao hơn.
Phạm Thị Lộc
Trường Tiểu học Lương Điền (Cẩm Giàng)
Bài đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Hải Dương số 6/2015
 

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912