Khoa học quản lý 2016-01-05 01:30:30

Những mầm xanh Trường Sa đang âm thầm lớn dậy từ khô cằn, biển mặn, bão giông, có một công sức đóng góp rất lớn của các nhà quản lý và nghiên cứu khoa học. Qua những chuyến vượt sóng ra khảo sát, nghiên cứu ngoài huyện đảo đã cho chúng ta biết thêm về những công việc thầm lặng của họ. Và, trên hết là những trái tim kết nối với Trường Sa…

Bắt đầu từ những chuyến đi đến với Trường Sa
Chuyến hành trình của tàu HQ 936 Vùng D Hải quân đưa các nhà quản lý, nhà khoa học đi khảo sát, nghiên cứu thực tế tại một số đảo thuộc huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa. Xuất phát từ Quân cảng Cam Ranh, đoàn có 28 thành viên, trong đó có 20 nhà quản lý, nhà khoa học, 8 nhà báo, đến từ Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Đà Nẵng, Bình Định và Khánh Hòa… Theo kế hoạch, đoàn sẽ tổ chức khảo sát tại các đảo Song Tử Tây, Sinh Tồn, Trường Sa đông, Đá Tây, Trường Sa, Đá Lát. Chuyến đi phải kéo dài hơn dự định, gần một tháng công tác ở Trường Sa đã mang lại nhiều kết quả làm cơ sở vững chắc cho những nhận định, đánh giá và đưa ra những giải pháp phù hợp. Đoàn đã tiến hành khảo sát, thực tế đời sống của quân và dân trên đảo cũng như nghiên cứu về khí hậu, chất đất, nước ngọt, chất thải, dịch bệnh, năng lượng, cây trồng, vật nuôi... ở các đảo.
 Ở vùng biển quần đảo Trường Sa khí hậu có phần khác biệt với các vùng ven bờ, mùa hè mát hơn và mùa đông ấm hơn. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới, gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam. Chất lượng không khí đại dương trong lành, độ ẩm cao, nhiệt độ không khí trên vùng biển khá đồng nhất, nhiệt độ trung bình khoảng 28oC. Nước ngọt chủ yếu sử dụng nước mưa và nước được cung cấp từ đất liền ra. Một số đảo nổi như đảo Sinh Tồn có giếng nước nhưng đều là nước lợ, mùa khô bị nhiễm mặn cao, có nơi nước mặn 70% so với nước biển. Động vật tự nhiên trên đảo chỉ một số ít loài chim, nhiều hơn cả là cò và một số loài chim di cư theo mùa. Một số loài vật nuôi được đưa ra từ trong đất liền ra đảo như bò, lợn, gà, vịt… riêng chăn nuôi bò chỉ có ở Song Tử Tây, Trường Sa lớn. Phương thức chủ yếu là nuôi bán tập trung, quy mô chăn nuôi trên các đảo nổi lớn hơn. Thức ăn chủ yếu từ thức ăn thừa và một phần thức ăn tổng hợp. Con giống chủ yếu được chuyển từ đất liền ra và có sự trao đổi, luân chuyển giữa các đảo với nhau, đáp ứng một phần nhu cầu thực phẩm tươi sống cho quân và dân trên các đảo.
Qua khảo sát về môi trường cho thấy tại các đảo bao gồm nước thải, rác thải, khí thải, chất thải trong chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nước thải từ sinh hoạt được thu gom, một phần dùng để tưới rau, phần còn lại thải trực tiếp xuống đất hoặc ra biển. Nước thải từ vệ sinh chuồng trại trong chăn nuôi chủ yếu sử dụng nước biển thải trực tiếp xuống đất hoặc ra biển. Rác thải trên các đảo nổi được thu gom, trong đó rác thải hữu cơ được xử lý đốt thủ công, một số nơi rác thải rắn được gom nhưng chưa có giải pháp xử lý. Chất thải trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, phần rắn được thu gom xử lý làm phân bón. Chất thải nguy hại gồm acquy, bóng đèn, các loại quạt điện hỏng… chưa có giải pháp xử lý triệt để. Nhà vệ sinh trên các đảo nổi sử dụng nhà vệ sinh tự hoại 2 hoặc 3 ngăn, trên các đảo chìm chủ yếu là nhà vệ sinh tự hoại 2 ngăn, sử dụng chủ yếu bằng nước biển. Về lâu dài cần có những nghiên cứu sâu hơn để đánh giá khả năng và mức độ phân hủy của các chủng vi sinh vật trong nước biển.
Các đảo thuộc quần đảo Trường Sa là các bãi cát san hô, thường có một phần nhỏ nổi cao trên mặt nước, bao quanh phần nổi là hành lang bãi cạn dài từ vài trăm mét đến hàng nghìn mét, độ sâu hành lang vào khoảng 2 - 5 m. Ra khỏi hành lang có độ sâu từ vài mét đến hàng nghìn mét. Chất đất là cát san hô, có lẫn những lớp phân chim lẫn mùn cây có bề dày từ 5 đến 10 cm. Ngoài cây phong ba, bão táp, bàng vuông là những cây sinh trưởng lâu đời, còn lại đa số các loài cây đem từ đất liền ra như: dừa, chuối, đu đủ, phi lao, bàng, nhàu, tra và một số loại rau… có khả năng thích ứng tương đối tốt. Sóng, gió và hơi mặn quanh năm tưởng như không có loài thực vật nào có thể tồn tại, nhưng quân và dân trên đảo đã có nhiều sáng kiến đưa các loại vật nuôi, cây trồng từ đất liền ra đảo. Ý thức được tầm quan trọng của món rau xanh không thể thiếu trong mỗi bữa ăn, bộ đội đã chủ động mang đất mùn từ đất liền ra, tận dụng tối đa diện tích để làm mới và nâng cấp hệ thống vườn, chậu, hộp rau, góp một phần bảo đảm nhu cầu rau xanh thường xuyên của bộ đội.
Trường Sa hiện là khu vực rất đa dạng về hệ sinh thái biển, ngoài các thảm san hô, rong biển cùng nhiều hệ thực vật quý, nơi đây còn lưu giữ, bảo tồn nhiều loài sinh vật biển có giá trị kinh tế cao như Cá hồng, cá chim trắng, cá ngừ, cá chẽm, hải sâm, bạch tuộc, bào ngư…Đặc biệt, tại đảo Đá Tây, nhờ một quần thể san hô tôn tạo thành một bờ đá, bên trong là một “lòng hồ” rộng hàng chục hải lý. Mặc dù bờ đá san hô này chưa đủ nổi lên mặt nước, nhưng nhờ nó đã làm giảm sóng cấp 8, cấp 9 bên ngoài xuống còn cấp 5, cấp 6 bên trong. Nhờ “lòng hồ” giữa biển khơi này mà khi có bão, áp thấp nhiệt đới hoặc thời tiết xấu, hàng trăm tàu đánh bắt cá xa bờ của ngư dân không kịp vào đất liền sẽ vào khu vực này tránh trú, hạn chế thiệt hại. Hiện tại, hầu hết các đảo chưa có chủ trương nuôi trồng thủy sản. Riêng đảo Đá Tây, theo chương trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có dịch vụ hậu cần nghề cá và nuôi cá lồng tại lòng hồ, chủ yếu nuôi một số giống cá chẽm, chim trắng phát triển tương đối tốt.
Trăn trở của các nhà quản lý, nhà khoa học
Sau một tháng sống, làm việc với quân và dân trên đảo đã cho nhà khoa học thấy các vấn đề cấp thiết đặt ra đối với đời sống Trường Sa. Những khó khăn và nguy cơ tiềm ẩn về môi trường, nguồn nước, năng lượng, cây trồng vật nuôi,  chất thải chăn nuôi, rác sinh hoạt, bếp ăn và nhà vệ sinh… phải làm sao để áp dụng những thành tựu khoa học và công nghệ, môi trường vào thực tế cuộc sống của quân và dân trên các đảo. Các nhà khoa học đã đề ra một số giải pháp như sau:
Về ô nhiễm môi trường, để xử lý chất thải chăn nuôi cần sử dụng các chế phẩm sinh học để xử lý giảm thiểu mùi hôi, côn trùng phát sinh và xử lý thành phân bón tại các khu vực chăn nuôi tập trung hoặc bán tập trung. Xử lý rác sinh hoạt, sử dụng các chế phẩm sinh học để xử lý rác thải hữu cơ thành phân bón cho cây trồng, rau xanh. Thu gom chất thải nguy hại và đưa vào đất liền xử lý. Giải quyết nước dùng cho ăn uống, sinh hoạt và nước tưới, sử dụng các túi trữ nước bằng nhựa HDPE từ 1 - 3 m3, có thể dùng từ 5 - 10 năm, phù hợp tình hình thực tế một số đảo để tăng khả năng lưu trữ nước mưa (đặc biệt đối với các đảo chìm). Cung cấp máy lọc nước dùng cho ăn uống có công suất phù hợp với quy mô từng đảo. Nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ, thiết bị lọc nước nhiễm mặn thành nước phục vụ cho sinh hoạt, tưới cây cung cấp cho các đảo có giếng nhiễm mặn. Các bếp ăn cần tiếp tục cải tiến, đầu tư các thiết bị, dụng cụ chuẩn bị nấu… phù hợp, bảo đảm an toàn vệ sinh, tránh côn trùng phát sinh.
Vấn đề cây trồng, rau xanh,cần có kế hoạch cung cấp bổ sung các loại hạt giống, giá để đất trồng, các loại phân bón lá, phân vi sinh và phân bón hòa tan.Nghiên cứu, thử nghiệm hệ thống che chắn gió bằng những tấm composite có thể tháo, ráp linh hoạt để tiện lợi trong việc sử dụng. Đưa ra đảo trồng thử nghiệm một số giống rau, cây ăn quả có khả năng chịu hạn, chịu mặn đã được trồng trên đất liền.Thử nghiệm trồng cỏ vetiver đối với vùng đất chưa xây dựng các công trình, cây đậu phộng dại hoa vàng để tạo cảnh quan, cải tạo đất, tăng độ ẩm cho đất, chống xói mòn.Nghiên cứu, thử nghiệm trồng rau an toàn bằng phương pháp thủy canh tại các đảo chìm và đảo nổi cấp 2,3 để chủ động nguồn rau xanh quanh năm.Về lâu dài, cần nghiên cứu thiết kế và thử nghiệm triển khai mô hình trồng rau theo hướng khép kín với hệ thống che chắn cơ động, tưới phân bón hòa tan tuần hoàn, tiết kiệm nước để đảm bảo nguồn rau xanh chất lượng tốt, an toàn.
Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm tại các đảo nổi nên tổ chức chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng tập trung với quy mô hợp lý nhằm cung cấp nguồn thực phẩm tươi cho quân và dân trên đảo. Tiếp tục thử nghiệm các chủng vật nuôi phù hợp, thích nghi với điều kiện khí hậu, thời tiết của các đảo. Triển khai trồng rong nho trong bể composite tại các đảo nhằm thay thế một phần rau xanh. Trong đó, đảo Trường Sa Lớn sẽ phát triển thành trung tâm nuôi trồng và cung cấp giống rong nho. Đảo Đá Tây phát triển dịch vụ nuôi trồng thủy sản, nuôi thương phẩm một số loài cá có giá trị kinh tế như chim vây dài, chim vây ngắn. Khu dịch vụ hậu cần nghề cá cần đầu tư thêm một số thiết bị máy móc như máy khoan, tiện, hàn… để kịp thời sửa chữa tàu thuyền để thực hiện tốt dịch vụ hậu cần nghề cá. Một số đảo có thể khai thác hợp lý nguồn rong sụn phát triển tự nhiên ở khu vực quanh đảo làm thực phẩm.
Thay cho lời kết
Từ Trường Sa, những tin vui về những chú vịt đầu tiên ấp nở thành công từ máy ấp trứng của Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh mới gửi ra, về cây quất đã trổ những mầm lá xanh non, về những luống rau, mầm cải…và, cả những nỗi niềm buồn vui của người lính đảo. Như một lẽ tự nhiên từ tấm lòng thương lính, yêu Trường Sa. Tình yêu biển đảo của các nhà khoa học đã kết nối những trái tim hướng về biển đảo. Trường Sa - nơi Tổ quốc thật gần, bởi điều giản dị, nơi ấy, những mầm xanh đang vươn mình lớn dậy như minh chứng cho một sức sống mãnh liệt giữa trùng khơi.
Nguyễn Xuân Tình
Bài đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Hải Dương số 6/2015
                                                                                         
 

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912