Khoa học và công nghệ 0000-00-00 00:00:00

Theo dự báo của ĐàiKhí tượng thủy văn Hải Dương, nhiệt độ trung bình toàn mùa ở mức xấp xỉ cao hơn trung bình nhiều năm (TBNN)(TBNN: 19,70C). Số ngày rét đậm, rét hại ít, không kéo dài. Tuy nhiên, vẫn có thể xuất hiện các đợt rét khoảng từ 4 - 6 ngày. Tháng 4 năm 2017 vẫn còn có những đợt không khí lạnh có cường độ khá mạnh làm nhiệt độ giảm sâu ảnh hưởng đến phân hóa đòng và trỗ bông của lúa nếu cấy sớm. Trong khi đó, cơ cấu trà lúa sớm vụ là  6.100 ha; chiếm 10% diện tích; trà Xuân muộn có 54.000 ha; chiếm 90% diện tích.

I. DỰ BÁO DỊCH HẠI

Căn cứ diễn biến thời tiết, cơ cấu cây trồng, Chi cục Bảo vệ thực vật ( BVTV) dự báo vụ chiêm xuân 2016 -  2017 có một số đối tượng sâu, bệnh - dịch hại chính như sau:

1. Bệnh đạo ôn:

- Dự báo bệnh đạo ôn lá gây hại cao hơn vụ xuân năm 2016 về cả mức độ và phạm vi. Bệnh đã xuất hiện một vài ổ trên giống nhiễm vào đầu tháng 3, bệnh hại tăng dần và hại nặng cuối tháng 3 đầu tháng 4.  Bệnh gây hại nặng trên các giống nhiễm như BC15, KD18, Q5, nếp,… và ruộng bón nhiều đạm và chăm bón muộn;

- Bệnh đạo ôn cổ bông xuất hiện và gây hại từ cuối tháng 4 đầu tháng 5 (khi lúa trỗ gặp thời tiết âm u, có mưa phùn, mưa nhỏ kéo dài; khả năng bệnh đạo ôn cổ bông sẽ phát sinh gây hại cao hơn vụ xuân năm 2016.

2. Rầy nâu & rầy lưng trắng:

- Dự báo Rầy sẽ gây hại tương đương vụ xuân 2016. Rầy lứa 2 xuất hiện từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 4 gây hại cục bộ trên giống nhiễm; rầy lứa 3 gây hại từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5, đây là lứa rầy nguy hại nhất ở vụ xuân với mật độ cao, phạm vi phân bố rộng và vào giai đoạn lúa trỗ thoát đến chín sáp (đỏ đuôi). Các giống lúa thơm, lúa nếp, lúa lai... thường bị rầy gây hại nặng; nếu không tổ chức phòng trừ tốt sẽ gây cháy rầy trên diện rộng.

3. Chuột hại: Chuột gây hại năm nay dự kiến cao hơn vụ xuân 2016 vì ngay từ cuối năm 2016 đến nay thời tiết ấm là điều kiện thuận lợi cho chuột sinh sản và sẽ gây hại mạnh ngay từ đầu vụ với phạm vi và mức độ gây hại cao  hơn cùng kỳ năm trước (CCNT). Chuột gây hại liên tục trong vụ cho đến khi thu hoạch nhất là trong giai đoạn lúa đẻ nhánh rộ đến đòng non.

4. Bệnh khô vằn:  Dự báo mức độ hại tương đương CKNT. Bệnh phát sinh gây hại từ giai đoạn lúa đứng cái đến trước khi thu hoạch; diện tích cấy dày, bón phân không cân đối, bón thừa đạm; chân đất cao thường xuyên mất nước bệnh thường phát sinh gây hại nặng, tỷ lệ bệnh phổ biến 10-20%, cao 30% số dảnh;.

5. Sâu cuốn lá nhỏ: Dự báo mức độ hại cao hơn CKNT; Bướm lứa 2 vũ hoá vào giữa tháng 3, sâu non nở rộ cuối tháng 3 đầu tháng 4 gây hại trà xuân muộn với diện phân bố rộng;  bướm lứa 3 vũ hoá giữa tháng 4, sâu non nở rộ cuối tháng 4 đầu tháng 5 hại cục bộ lá đòng trên diện tích xanh tốt, đặc biệt diện tích bón đạm muộn; mức độ hại cao hơn CKNT.

6. Bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn: Bệnh gây hại khi cây lúa ở giai đoạn đứng cái đến đòng trỗ; trên những giống có bản lá to, lúa lai, Hương thơm, Bắc thơm là giống mẫn cảm với bệnh bạc lá, ngoài ra bệnh còn gắn với yếu tố thời tiết như mưa to kèm giông; dự báo mức độ, phạm vi gây hại của bệnh thấp hơn vụ xuân năm 2016.

Ngoài ra trên đồng ruộng còn xuất hiện:

- Ốc bươu vàng, bệnh nghẹt rễ sinh lý, ruồi vàng, bọ trĩ gây hại đầu vụ;

- Bọ xít đen, bệnh thối thân, bệnh vàng lá - khô đầu lá gây hại giữa vụ;

- Bệnh lem lép hạt, bệnh phoi trắng đầu bông gây hại cuối vụ.

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, TRỪ

1. Một số giải pháp phòng:

- Giữ đủ nước trong quá trình sinh trưởng của cây lúa, áp dụng điều chỉnh nước ruộng theo quá trình sinh trưởng của cây để đạt số dảnh hữu hiệu tối đa;

- Chăm bón tập trung, bón sớm, tránh bón đạm lai rai, bón cân đối, phải bón ka li khi lúa có đòng,...

- Thường xuyên thăm đồng phát hiện sớm khi sâu, bệnh mới phát sinh, tuổi nhỏ, ở diện hẹp có biện pháp xử lý kịp thời mang lại hiệu quả kinh tế, giảm thiểu ô nhiễm môi trường;

-  Phát động phong trào diệt trừ chuột ngay từ khi bơm nước làm đất gieo cấy và giai đoạn lúa làm đòng (đòng non); chú trọng biện pháp thủ công, sinh học. Chỉ sử dụng biện pháp hoá học khi cần thiết, nghiêm cấm việc dùng điện để diệt chuột dưới mọi hình thức;

- Không phun thuốc hóa học trừ bọ trĩ, ruồi vàng. Chỉ sử dụng thuốc hoá học khi thật cần thiết, khi mật độ sâu, tỷ lệ bệnh ỏ mức ngưỡng; hạn chế sử dụng thuốc BVTV có độc tính cao, nên chọn dòng thuốc đặc hiệu có nguồn gốc sinh học, thảo mộc... Sử dụng thuốc BVTV phải theo nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng liều, đúng lúc, đúng cách).

2. Biện pháp trừ:

- Biện pháp thủ công: Thường áp dụng khi mật độ sâu, tỷ lệ bệnh thấp. Biện pháp này giảm thiểu gâyô nhiễm môi trường và chi phí thuốc BVTV, đặc biệt có hiệu quả cao với chuột hại, ốc bươu vàng, cỏ dại; 

- Biện pháp hóa học: Đây là biện pháp cần thiết, cấp bách. Chỉ sử dụng thuốc hoá học khi thật cần thiết; khi có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh phát sinh tới ngưỡng. Khuyến cáo nông dân lựa chọn những loại thuốc đặc hiệu có độc tính thấp; có nguồn gốc sinh học như thuốc thảo mộc, vi sinh ... Hạn chế sử dụng thuốc BVTV có độc tính cao. Khi sử dụng thuốc BVTV phải thực hiện theo nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng liều, đúng lúc, đúng cách).

Bài của Phạm Nguyên Hạnh
Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Hải Dương đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Hải Dương số 2 ra tháng 4/2017

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912