TẠP CHÍ KH&CN
Xem Tạp chí   
Thành viên



Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: : 8651776
Đang trực tuyến: 241 khách 
Khoa học và công nghệ góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh
Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 
Tạp chí số 4/2009 - Khoa học công nghệ
Đăng bởi: CN. Phạm Ninh Hải   
Thứ năm, 10 Tháng 9 2009 10:47
tc 4 5Từ năm 2006-2008 trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn có 35 đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ (KHCN) được đưa vào kế hoạch KHCN của tỉnh và đã có 34 dự án, đề tài được thực hiện, đạt 97,4% kế hoạch. Tổng kinh phí đầu tư cho các dự án, đề tài trong lĩnh vực này là 7.795,8 triệu đồng, chiếm 26% tổng kinh phí đầu tư cho các nhiệm vụ KHCN, thu hồi về quỹ phát triển KHCN của tỉnh là 912,4 triệu đồng, chiếm 11,7% tổng kinh phí đầu tư. Kết quả thực hiện các dự án, đề tài KHCN đã góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh những năm 2006-2008 được thể hiện như sau:
1- Về trồng trọt:
1.1. Cây lúa
Dự án áp dụng công nghệ sinh học duy trì giống bố, mẹ để sản xuất hạt giống lúa lai 2 dòng, 3 dòng để mở rộng diện tích lúa lai và tiếp tục khảo nghiệm, sản xuất thử các giống lúa tiến bộ kỹ thuật mới để bổ sung vào cơ cấu mùa vụ của tỉnh luôn là dự án trọng điểm trong Kế hoạch KHCN của tỉnh từ năm 2006-2008. Kết quả các dự án, đề tài của tỉnh và đề tài Trung ương về lúa lai trên địa bàn tỉnh đạt được như sau:
- Đã tiếp thu và từng bước làm chủ được công nghệ duy trì bố, mẹ giống lúa lai 2 dòng, 3 dòng để sản xuất ra giống F1 cung cấp cho sản xuất đại trà của tỉnh, như các giống Bắc ưu 903, Bắc ưu 253 (có khả năng chịu ngập úng 13-15 ngày vẫn cho năng suất cao), HYT 83, HYT 100, HYT 103, VL45 (có tính kháng bạc lá cao).
- Đã chuyển giao công nghệ sản xuất các giống F1 lúa lai 2 dòng, 3 dòng cho hàng nghìn hộ nông dân của huyện Nam Sách, Bình giang, Tứ Kỳ, Ninh giang, Chí Linh,... sản xuất được hàng trăm giống lúa lai F1 và hàng nghìn tấn giống lúa chất lượng, góp phần đưa diện tích lúa lai và lúa chất lượng của tỉnh ngày một tăng: 1,8% năm 2001, 15% năm 2006, 25% năm 2008; vụ xuân năm 2009, diện tích lúa lai đạt 18,8%, lúa chất lượng đạt 23,2%, đưa năng suất lúa lai đại trà tăng 1,5 tấn/ha/vụ so với lúa thuần sản xuất đại trà.
- Đã khảo nghiệm, sản xuất thử và kết luận được hàng chục giống lúa năng suất và chất lượng bổ sung vào cơ cấu mùa vụ của tỉnh như: 7 giống lúa thuần, là các giống ĐB6, khang dân, QN1, HT1, nếp quýt, hương cốm, đặc sản Đài Loan; 7 giống lúa lai: Nghi hương 2308, Đ.ưu 527, HYT 83, Thục Hưng 6, Q.ưu 1, N.ưu 69, Bắc ưu 025; đặc biệt trong đó có các giống lúa lai năng suất, chất lượng cao như HYT 83, SYN6, Bắc ưu 025, giống N.ưu 69 vừa kháng bạc lá và gạo ngon.
- Nghiên cứu xây dựng vùng giống lúa nhân dân: một trong những thành công nổi bật trong các dự án, đề tài về cây lúa là đã nghiên cứu và xây dựng thành công mô hình vùng giống lúa nhân dân, kết quả mô hình đã được áp dụng rộng trong sản xuất. Đến năm 2008, vùng giống lúa nhân dân đã sản xuất được trên 10 nghìn tấn giống đảm bảo chất lượng, đáp ứng được trên 70% diện tích gieo cây lúa của tỉnh.
Các thành tựu khoa học công nghệ đạt được trong sản xuất lúa đã góp phần tăng năng suất và sản lượng lúa của tỉnh. Năm 1997 đạt năng suất 102,64 tạ/ha và sản lượng đạt 762.246 tấn thì đến năm 2008 năng suất đạt 120,93 tạ/ha (tăng 17,8%) và sản lượng đạt 767.246,6 tấn (mặc dù diện tích trồng lúa bị chuyển đổi sang mục đích khác giảm 14,59% so với năm 1997).
1.2- Rau màu và cây công nghiệp
Đã triển khai áp dụng rộng rãi vào sản xuất, nhất là sản xuất vụ đông các giống rau màu, cây công nghiệp có năng suất và hiệu quả kinh tế như: ngô lai, gồm các giống LVN4, LVN 99 có năng suất từ 5-7 tấn/ha, tăng 20-25% so với các giống ngô cũ; giống ngô nếp MX10 năng suất đạt 10-12 tấn bắp non/ha, tăng từ 25-30% so với các giống ngô đối chứng; các giống khoai tây có năng suất cao và chất lượng: khoai tây Hà Lan, Diament, khoai tây Mỹ Atlantic, khoai tây Ấn Độ Iben có năng suất từ 15-20 tấn/ha, tăng so với các giống VT2 của Trung Quốc là giống trồng đại trà trong sản xuất từ 30-40%; đã phục tráng, nhân lọc được giống lạc LĐN01 từ giống lạc TH116 (được áp dụng ở Hải Dương từ năm 1999) đã bị thoái hóa. Giống lạc LĐN01 có năng suất đạt từ 35-40 tạ/ha, cao hơn TH116 từ 10-15 tạ/ha (tăng 40-60%) và đang được mở rộng diện tích trồng tại một số xã của huyện Chí linh, Kinh Môn, Tứ Kỳ.
Trong 2 năm 2007-2008 đã xây dựng thành công mô hình trình diễn áp dụng giống tiến bộ kỹ thuật Bí xanh số 1 của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm với quy mô 150 ha, thực hiện tại 1.320 hộ nông dân trong 9 Hợp tác xã (HTX) của 4 huyện: Cẩm Giàng, Bình Giang, Tứ Kỳ, Thanh Miện. Mặc dù gặp thời tiết bất thuận (vụ thu đông năm 2007 gặp cơn bão số 4, 5; vụ thu đông năm 2008 gặp trận mưa lớn kéo dài từ 2-5/11 đã làm nhiều diện tích bị ngập úng, một số diện tích bị mất trắng) nhưng vẫn cho năng suất cao, hiệu quả lớn. Vụ xuân- hè năng suất đạt 46-52 tấn/ha, có 49% số hộ đạt trên 50 tấn/ha, trong đó có nhiều hộ đạt 53-54 tấn/ha; vụ thu đông năng suất đạt 30-40 tấn/ha, có 80% số hộ đạt 35 tấn/ha; thu nhập đạt trung bình 80-100 triệu đồng/ha, cho lãi từ 35-40 triệu đồng/ha, gấp từ 1,2-1,4 lần so với giống Bí xanh cũ của địa phương.
Từ kết quả của mô hình vụ xuân năm 2009, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã cung cấp giống và hướng dẫn kỹ thuật cho một số HTX của một số huyện trong tỉnh trồng được 300ha Bí xanh số 1.
1.3- Cây ăn quả, hoa, cây cảnh và cây dược liệu.
- Cây ăn quả:
Trong những năm gần đây vải thiều của tỉnh Hải Dương nói riêng và cả nước nói chung đã gặp phải khó khăn là thu nhập quá tập trung trong một thời gian ngắn, trong khi sức tiêu thụ có hạn, khâu bảo quản, chế biến, xuất khẩu còn yếu nên đã gây nên tình trạng rớt giá, hiệu quả kinh tế thấp. Tình trạng đó đã dẫn đến nhiều người trồng vải đã phải phá vải đi để chuyển sang cây trồng khác. Để không phải phá vải đi mà lại được thu hoạch sớm, có hiệu quả kinh tế cao hơn, khoa học và công nghệ tỉnh đã tập trung giải quyết tốt một số nội dung sau:
+ Tuyên truyền, phổ biến rộng áp dụng một số chế phẩm sinh hóa học về đậu hoa, đậu quả và để kéo dài thời gian thu hoạch vải thiều được từ 10-15 ngày, giá bán tăng được từ 40-90%.
+ Xây dựng mô hình cải tạo vườn vải thiều bằng công nghệ ghép các giống vải, nhãn chín sớm (hoặc chín muộn) có chất lượng tốt lên các cây vải thiều đã được cưa đốn ngọn, cành và chỉ sau 24 tháng được thu hoạch. Quy mô thực hiện là 2,5 ha tại Xí nghiệp Cây ăn quả Cầu Xe; các cây ghép là vải chín sớm Hồng Long có chất lượng tốt, đồng thời còn ghép nhãn Hương Chi, nhãn muộn Đại thành Hà Nội lên cây vải đạt kết quả tốt. Mô hình này đã được quảng bá rộng rãi trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh để nhân dân các vùng trồng vải áp dụng.
+ Đã xây dựng được vườn giống cây ăn quả đầu dòng (có 725 cây) và vườn nhân giống (có gần 18.000 cây) các giống cây ăn quả quý hiếm, có chất lượng để bảo tồn, lưu giữ, phát triển và cung cấp cây giống cho sản xuất đại trà trong tỉnh; quy mô gần 2 ha tại Xí nghiệp Cây ăn quả Cầu Xe (Tứ Kỳ); Các giống nhãn gồm có: nhãn Quế Chi, nhãn Lồng phố Hiến và nhãn muộn Hưng Yên, nhãn muộn Đại Thành Hà Nội; Các giống vải: vải chín muộn Thanh Hà, vải muộn Tứ Kỳ, vải sớm Hồng Long (Quảng Ninh), vải không hạt và vải Bạch Đường Anh của Trung Quốc, v.v...
- Hoa, cây cảnh và cây dược liệu: Công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật được ứng dụng đã nhân nhanh được khoảng 20.000 giống cây phục vụ sản xuất đại trà như: Các cây thuốc Trinh nữ Hoàng cung, Lô hội; các giống hoa như lan Hồ Điệp, lan Đai Châu, lan Vũ Nữ, hoa cúc, hoa đồng tiền, ... Trồng hoa và cây cảnh đã trở thành một nghề phát triển mạnh trong sản xuất nông nghiệp. Nhiều nhà vườn có giá trị kinh tế và sinh thái ở các huyện và thành phố Hải Dương đã được xây dựng và ngày càng phát triển đã thu hút nhiều du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan,học tập.
2-Chăn nuôi:
- Chăn nuôi gia cầm:
Từ năm 2006-2008 các đề tài,dự án đã đưa được các giống gia cầm mới vào chăn nuôi, như các giống gà: Lương Phượng, Tam Hoàng, Sasso, Be707, gà lông màu, gà ri thả vườn, đặc biệt năm 2008 giống gà Sao thương phẩm đã được nghiên cứu và nuôi tại 2 huyện Kinh Môn và Chí Linh cho kết quả tốt. Các giống ngan pháp siêu thịt, vịt siêu thịt C.V.SupperM, vịt siêu trứng M.Khlicambell, CV 200 Layer cũng được đưa vào chăn nuôi.
- Dự án xây dựng mô hình khoa học công nghệ sản xuất thịt gia cầm an toàn, chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã đạt được kết quả tốt. Dự án đã xây dựng được mô hình chăn nuôi gia cầm khép kín 3 cấp ông bà, bố mẹ và con thương phẩm trên địa bàn các huyện của tỉnh, như: Nam Sách, Tứ Kỳ, Cẩm Giàng, Ninh Giang, Kim Thành, Chí Linh với 158 hộ dân tham gia thực hiện. Đàn gia cầm giống ông bà có 1.500 con (gà Sasso 44 và LV; Vịt Super M; Ngan siêu thịt và R71) đã sản xuất được 7.000 con mái và 1.400 con trống bố, mẹ để sản xuất ra 195.500 con gia cầm thương phẩm, đảm bảo chất lượng cung cấp cho sản xuất đại trà. Hiệu quả mang lại đối với gà, vịt, ngan bố, mẹ và con giống thương phẩm lãi được từ 15-20%, điều quan trọng hơn là đã xây dựng được vùng sản xuất giống và nuôi con gia cầm thương phẩm an toàn để cung cấp thịt cho người tiêu dùng.
- Chăn nuôi thủy sản:
Các giống thủy sản mới đưa vào áp dụng đem lại hiệu quả kinh tế cao như giống cá trình, cá Trường Giang, Từ điêu hồng, các lóc bông, cá lóc hoa, cá lăng chấm, cá rô phi dòng Sôđan, tôm càng xanh...; phát huy kết quả của đề tài KC06.22.NN của Nhà nước thực hiện trên địa bàn tỉnh Hải Dương, năm 2006 - 2007 Chương trình phát triển thuỷ sản hàng hoá tập trung tại các khu vực đất mới chuyển đổi ở các huyện trong tỉnh đã được UBND tỉnh giao cho Sở Khoa học và Công nghệ triển khai thực hiện tại các huyện Kinh Môn, Chí Linh, Thanh Miện, Ninh Giang, Bình Giang, Gia Lộc, Cẩm Giàng, Thanh Hà, giống cá nuôi là cá rô phi đơn tính. Kết quả thực hiện Chương trình: năng suất đạt từ 10-15 tấn/ha, có hộ đạt cao nhất là 25 tấn/ha (các giống cá cổ truyền chỉ có thể đạt 2,5-3,0 tấn/ha), giá trị sản xuất thủy sản đạt từ 40-80 triệu đồng/ha. Thực hiện đề tài sản xuất cá rô phi đơn tính 21 ngày tuổi đến nay đã có Xí nghiệp Giống cây trồng- Thuỷ sản Tứ Kỳ và Trung tâm quốc gia Giống thủy sản nước ngọt miền Bắc đã sản xuất được 2,5-3 triệu cá giống/năm; 2 đơn vị này đã chuyển giao công nghệ sản xuất cá giống lớn (sau 21 ngày tuổi) là rô phi đơn tính cho hàng trăm hộ nông dân trên địa bàn tỉnh để cung cấp cá giống cho sản xuất đại trà.
Việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật (TBKT) trong chăn nuôi thủy sản đã góp phần đưa năng suất và sản lượng cá năm 2008 tăng lên gấp gần 6 lần so với năm 2001. Năm 2001 diện tích nuôi trồng thủy sản là 7.304 ha, năng suất bình quân đạt 2,03 tấn/ha, sản lượng đạt 14.847 tấn, đến năm 2008 diện tích nuôi thủy sản là 9.896 ha (tăng 2.592 ha), năng suất bình quân đạt 4,81 tấn/ha (tăng 42,2%), sản lượng đạt gần 48.000 tấn (tăng 31%). Đặc biệt năm 2008 diện tích cá rô phi đơn tính tăng 30% (2.900ha) so với những năm trước.
3- Sản xuất các sản phẩm mới phục vụ nông nghiệp.
Trên cơ sở thiết bị dây chuyền công nghệ Nhà máy sản xuất phân bón vi sinh do nước Cộng hoà Séc viện trợ cho tỉnh Hải Dương, Đề tài: "Nghiên cứu ứng dụng công nghệ Fitohoocmon để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ rác thải hữu cơ, phế thải của chăn nuôi tại Hải Dương" đã thiết kế mặt bằng nhà máy, cải tạo, bổ sung các trang thiết bị để tổ chức sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh theo công nghệ fitohoocmon, tận dung nguồn nguyên liệu chính là nguồn phân thải chăn nuôi quy mô công nghiệp tại các huyện Nam Sách, Kim Thành tỉnh Hải Dương.
Đề tài đã tiến hành sản xuất thử 90 tấn phân và thử nghiệm hiệu lực của phân bón đối với 5 loại cây trồng: lúa, ngô, rau (dưa hấu, cải bắp), vải thiều và đã đạt kết quả tốt về năng suất và cải tạo đất (đạm tổng số tăng 0,004%, P dễ tiêu tăng 0,19mg/100g đất), đất giữ ẩm tốt. Năm 2005-2006 Nhà máy phân bón Việt-Sec đã tổ chức sản xuất được 1.490 tấn phân bón cung cấp cho thị trường trong tỉnh. Năm 2007 - 2008 nhà máy tiếp tục mở rộng sản xuất phân bón cung cấp cho tỉnh Hải Dương và các địa phương lân cận. Hiện nay công suất của nhà máy đạt 3.000 tấn/năm (công suất thiết kế trên 10.000 tấn/năm). Đã có khoảng 15 Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và 39 đại lý tham gia phân phối phân bón trên thị trường.
Từ những kết quả của đề tài trên năm,2009 - 2010 UBND tỉnh Hải Dương đã đồng ý giao cho Ban chủ nhiệm đề tài phối hợp với nhà máy sản xuất chế phẩm sinh học BIOF có tác dụng xử lý đáy ao, nước ao nuôi cá; so với đối chứng thì các chỉ tiêu ô xy hoà tan, độ trong, vi sinh vật tổng số đều tăng, các chỉ tiêu BOD5, H2S đều giảm, đánh giá cảm quan sau khi thu hoạch cá: lớp bùn ao nông hơn, không có mùi hôi tanh, cá có màu sáng hơn so với đối chứng. Mô hình ứng dụng chế phẩm BIOF nuôi cá rô phi đơn tính nâng cao năng suất so với phương pháp nuôi thông thường 5-10 %, lãi thu được đạt 80,0-100,0 triệu đồng/ha.
4- Khoa học và Công nghệ trong bảo quản chế biến sản phẩm nông nghiệp.
Trong lĩnh vực bảo quản và chế biến sản phẩm nông nghiệp Khoa học và Công nghệ của tỉnhHải Dương trong các năm qua tập trung chủ yếu theo các hướng:
- Hợp tác liên doanh với nước ngoài và thu hút các dự án đầu tư trong nước để áp dụng công nghệ thiết bị tiên tiến nhằm khai thác, phát huy nguyên liệu, lao động sẵn có, tạo ra các sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu thị trường trong và ngoài nước. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có trên 66 doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trên các lĩnh vực: Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt có 5 doanh nghiệp; Chế biến và bảo quản rau quả có 23 doanh nghiệp; Chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa có 2 doanh nghiệp ; Lĩnh vực xay sát và sản xuất bột có 01 doanh nghiệp chuyên chế biến cháo ăn liền; sản xuất thức ăn gia súc có 10 doanh nghiệp; Sản xuất thực phẩm khác có 25 doanh nghiệp, v.v...
- Lựa chọn các TBKT hợp lý, tiên tiến để đổi mới và cải tiến công nghệ, thiết bị hiện có nhằm nâng cao chất lượng và sản lượng để đáp ứng yêu cầu thị trường như :
+ Nhiều hộ gia đình tại các vùng trồng hành, tỏi, cây mủa của huyện Nam Sách, Kim Thành, Kinh môn đã tiếp thu công nghệ sấy trực tiếp bằng khí nóng qua hệ thống thiết bị cơ khí và nồi hơi, có công suất từ 1-3 tấn/h đối với các loại củ, quả; từ 0,3-1 tấn/h đối với các loại rau, lá, đảm bảo chất lượng, đáp ứng được yêu cầu thị trường, góp phần mở rộng diện tích các cây hành, tỏi tại các địa bàn trong tỉnh và nâng cao giá trị hàng hoá cho các loại rau nói trên.
+ Nghiên cứu ứng dụng một số chế phẩm sinh hoá học kết hợp với bảo quản lạnh để kéo dài thời gian bảo quản vải thiều, cải bắp, su lơ, cà rốt, đã kéo dài thời gian bảo quản vải thiều được từ 30-35 ngày, đối với cà rốt là 60 ngày, đối với cải bắp và su lơ là 30 ngày. Chất lượng sau bảo quản, đánh giá các chỉ tiêu về mầu sắc, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng chất rắn hoà tan, Axít tổng số, VitaminC, đảm bảo các yêu cầu cho phép. Năm 2009 các cơ sở, doanh nghiệp, thương nhân trên địa bàn tỉnh xuất khẩu vải thiều sang Trung Quốc ước khoảng 21.400 tấn bằng bảo quản lạnh. Ngoài ra bằng phương pháp bảo quản lạnh Công ty cổ phần chế biến nông sản thực phẩm xuất khẩu Hải Dương hàng năm cũng đã xuất khẩu sang thị trường Nhật, Singapo và một số nước khác trên 1.000 tấn vải đông lạnh, đồng thời công ty cũng đã áp dụng hệ thống lò hơi sấy tuylen để sấy các sản phẩm hành, tỏi, bí ngô, bí xanh đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, đã xuất khẩu được trên 4.000 tấn mỗi năm. Công ty Đông Sơn đã áp dụng phương pháp bảo quản lạnh cà rốt đã kéo dài thời gian bảo quản cà rốt sau thu hoạch được trên 60 ngày, vận chuyển hàng trăm tấn mỗi năm chủ yếu vào Miền Nam và xuất khẩu sang Trung Quốc.

Hoàng Phương
Bài đăng trên tạp chí KHCN và MT số 4 - 2009
Cập nhật lần cuối vào Thứ năm, 10 Tháng 9 2009 14:04