Những vấn đề chung 2015-10-20 09:25:19

       Trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hải Dương đã phát huy lợi thế, khắc phục khó khăn chủ động triển khai thực hiện các chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu kinh tế. Từ đó đã giành được những kết quả khá toàn diện trên các lĩnh vực: kinh tế tăng trưởng cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên; văn hoá, xã hội có bước phát triển mới; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, công tác quốc phòng và quân sự địa phương được củng cố, tăng cường…có nhiều chuyển biến tích cực.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) giai đoạn 2011 - 2015 tăng bình quân 7,7%/năm, cao hơn bình quân cả nước (mục tiêu tăng 11%/năm). Năm 2015, quy mô kinh tế tỉnh đạt 76.734 tỷ đồng, gấp 1,83 lần năm 2010; GRDP bình quân đầu người đạt 2.000 USD. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp tăng nhanh; tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ chuyển dịch từ 20,1% - 47,7% - 32,2% năm 2010 sang 15,9% - 52,5% - 31,6% năm 2015. Cơ cấu lao động tương ứng chuyển dịch mạnh, từ 47,9% - 31,4% - 20,7% năm 2010 sang 36,5% - 35% - 28,5% năm 2015.
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân 3,1%/năm, vượt mục tiêu đề ra. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng hàng hóa, giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản tăng từ 94,4 triệu đồng năm 2010 lên 125,3 triệu đồng năm 2015. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi - thuỷ sản, giảm tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt - lâm nghiệp; tỷ trọng giá trị chăn nuôi - thủy sản tăng từ 36,9% năm 2010 lên 40,6% năm 2015. Giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng bình quân 2,2%/năm, giữ ổn định diện tích đất trồng lúa trên 60.000 ha, đảm bảo an ninh lương thực. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng bình quân 4,5%/năm. Giá trị sản xuất ngành thủy sản tăng bình quân 5,3%/năm. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng 179 ha so với năm 2010, sản lượng thủy sản tăng bình quân 4,4%/năm.
Đến hết năm 2015 toàn tỉnh có 64 xã hoàn thành 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đạt tỷ lệ 28,3% vượt mục tiêu đề ra (25). Toàn tỉnh đã xây dựng, cải tạo, nâng cấp 2.350 km đường giao thông nông thôn. Đến nay 92,5% đường xã và liên xã, 91,7% đường thôn, 88,6% đường xóm đạt chuẩn nông thôn mới. Mạng lưới cấp nước sạch được đầu tư xây lắp tới 100% các xã; tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt 85%.Toàn tỉnh, có 94,2% số xã, 97% số thôn có nhà văn hóa. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 12%/năm (mục tiêu tăng 15%/năm). Quy mô ngành công nghiệp năm 2015 gần gấp 2,2 lần năm 2010. Một số ngànhcông nghiệp có lợi thế cạnh tranh phát triển khá, giá trị sản xuất tăng bình quân 13,5%/năm. Công nghiệp cơ khí - điện tử tăng bình quân 14%/năm, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tăng bình quân 8,3%/năm, công nghiệp may giày tăng bình quân 7,7%/năm, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm tăng bình quân 9,1%/năm. Tiểu thủ công nghiệp và làng nghề phát triển ổn định, giá trị sản xuất tăng bình quân 6,1%/năm, toàn tỉnh có 65 làng nghề (tăng thêm 14 làng nghề); công nhận danh hiệu nghệ nhân làng nghề cho 24 người, bình chọn công nhận 92 sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu. Quy hoạch, phát triển 18 khu công nghiệp, trong đó có 10 khu công nghiệp đã được đầu tư hạ tầng và đi vào hoạt động, thu hút nhiều dự án đầu tư có quy mô khá, tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt 60%; quy hoạch 36 cụm công nghiệp với tổng diện tích 1.403 ha, thu hút 301 dự án đầu tư với diện tích thuê đất 601 ha. Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng bình quân 10,2%/năm. Công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng đã chuyển dần theo hướng hiện đại, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân 6,8%/năm (mục tiêu tăng 14%/năm). Thương mại nội địa cơ bản ổn định, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 15,3%/năm. Xuất khẩu hàng hóa đạt 17 tỷ USD, tăng bình quân 22,9%/năm (mục tiêu tăng 17%/năm). Dịch vụ du lịch phát triển khá, tăng bình quân 7,2%/năm về lượt khách và 13,1%/năm về doanh thu. Trong giai đoạn từ 2010 - 2015, tỉnh Hải Dương đã thực hiện nhiều biện để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, loại bỏ nhiều thủ tục hành chính gây cản trở tới hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; cải cách hành chính theo mô hình một cửa, một cửa liên thông có chuyển biến, rút ngắn thời gian đăng ký thành lập mới doanh nghiệp. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt trên 135 nghìn tỷ đồng, bằng 93,1% mục tiêu đề ra.Các nguồn vốn được đầu tư có trọng tâm, trọng điểm như Dự án cầu Hàn, Nhà máy chế biến rác thải sinh hoạt, Nút giao lập thể tại Ngã Ba hàng, đường 62 m kéo dài, đường 388 đoạn An Thái - Mạo Khê... Một số dự án quan trọng khác đang được tích cực đầu tư như: Đường trục Bắc Nam, đường vào Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc,... hoàn thành và đưa vào sử dụng gần 80 công trình cấp nước sạch.
Toàn tỉnh đã xây dựng và đưa vào sử dụng 1.811 phòng học kiên cố, tỷ lệ phòng học kiên cố ở các cấp học tăng nhanh (mầm non đạt 78,6%, tiểu học 94,8%, trung học cơ sở 94,7%, trung học phổ thông 97,9%). Đến nay, toàn tỉnh có 477 trường học đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 51,3%, tăng 140 trường so với năm 2010.
Đến năm 2015 kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng bình quân 16,9%/năm, chiếm tỷ trọng 32,2% GRDP của tỉnh. Kinh tế tư nhân tăng trưởng bình quân 5,7%/năm đến năm 2015 chiếm tỷ trọng 49,2%/năm. Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 21% năm 2010 lên 25,7% vào cuối năm 2015. Đáp ứng tốt hơn nhu cầu về nhà ở cho người dân, diện tích nhà ở bình quân (m2sàn/người) tăng từ 15 m2 năm 2011 lên 22 m2 năm 2015. Việc nâng cấp thành phố Hải Dương lên đô thị loại I, thị xã Chí Linh lên đô thị loại III, huyện Kinh Môn lên thị xã được tích cực triển khai thực hiện, đảm bảo yêu cầu đề ra. Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 99%; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 16,6% năm 2010 xuống còn 12,2% năm 2015. Tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế tăng từ 58% năm 2010 lên 75,1% vào năm 2015. Giai đoạn 2010 - 2015 đã tuyển sinh dạy nghề cho 135.100 người, bình quân hàng năm tạo việc làm mới cho 32.942 lao động (mục tiêu 3,2 vạn). Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 10,99% năm 2010 xuống còn 3,27% năm 2015, bình quân mỗi năm giảm 1,5% (mục tiêu 2,5%). Tỉnh hỗ trợ xây dựng nhà ở cho 3.371 hộ nghèo theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Chính phủ (bằng 134,8% kế hoạch); Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đã huy động được trên 37 tỷ đồng hỗ trợ nhà ở cho 1.886 hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn. Đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện và từng bước được nâng lên, thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 31 triệu đồng. Toàn tỉnh, có 85% số gia đình văn hoá, 80% số làng, khu dân cư văn hóa; 85% cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hoá. Việcbảo tồn, phát huy di sản văn hóa được chú trọng, khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc đã được công nhận xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt, 2 lễ hội được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
 Hạ tầng thông tin, truyền thông tiếp tục được hoàn thiện và nâng cấp; 100% các xã, phường, thị trấn được kết nối bằng cáp quang, phủ sóng điện thoại di động và Internet băng rộng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan đảng, nhà nước được đẩy mạnh, triển khai nhiều phần mềm ứng dụng hiệu quả. Hệ thống hội nghị trực tuyến được kết nối với Trung ương và ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh.
Hoạt động khoa học và công nghệ được quan tâm đầu tư theo hướng hiệu quả, thiết thực với mứcđầu tư 147,5 tỷ đồng từ ngân sách các cấp cho sự nghiệp khoa học và công nghệ; thực hiện 158 nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Phần lớn các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được lựa chọn có ý nghĩa thiết thực, hướng vào giải quyết những vấn đề do sản xuất và đời sống đặt ra; tập trung vào các đề tài ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ trên các lĩnh vực, nhất là trong sản xuất nông nghiệp, góp phần tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hoá. Hệ thống quản lý khoa học và công nghệ từng bước được kiện toàn; hoạt động khoa học và công nghệ ở cấp huyện tiếp tục được quan tâm. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ được nâng lên cả về số lượng và chất lượng.
Đến nay, 100% các khu công nghiệp đã xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn; nhiều cơ sở sản xuất ngoài khu công nghiệp đã thực hiện các biện pháp xử lý môi trường; tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải khu vực đô thị đạt gần 80%, khu vực nông thôn đạt hơn 60%. Tỉnh cũng đã hỗ trợ kinh phí từ ngân sách xây dựng 124 bãi chôn lấp rác cho 104 xã, xây dựng 1.160 bể chứa rác thải bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại 58 xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn I. Bệnh viện tuyến tỉnh và bệnh viện tuyến huyện có hệ thống xử lý nước thải, rác thải đạt tiêu chuẩn. Nhiệm vụ tuyển quân, tuyển sinh quân sự hàng năm đều hoàn thành 100% chỉ tiêu, chất lượng được nâng lên.Công tác phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm đạt kết quả tích cực; tỷ lệ điều tra, khám phá án hình sự đạt tỷ lệ 78,8%. Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông có bước chuyển biến tích cực, số vụ tai nạn giao thông giảm liên tiếp qua các năm trên cả 3 tiêu chí: số vụ, số người chết và số người bị thương.Công tác thanh tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được tập trung chỉ đạo; đã thực hiện được 3.026 cuộc thanh tra (tăng 58% so với giai đoạn 2006 - 2010).Trong nhiệm kỳ đã mở 3.814 lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho 235.911 lượt học viên. Triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tổ chức tốt việc học tập các chuyên đề tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hằng tháng trong sinh hoạt chi bộ. Hầu hết các cơ quan, đơn vị đã xây dựng và thực hiện chuẩn mực đạo đức theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên bên cạnh các kết quả đã đạt được, tỉnh Hải Dương vẫn còn có một số hạn chế cần khắc phục đó là: Một số chỉ tiêu về kinh tế còn đạt thấp so với mục tiêu đề ra, tăng trưởng kinh tế còn chậm, thiếu bền vững; môi trường đầu tư chưa có bước đột phá, quản lý sau cấp phép đầu tư còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn thiếu bền vững, chưa gắn kết được giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Sản xuất công nghiệp chưa tạo được bước bứt phá, các ngành công nghiệp công nghệ cao còn ít, công nghiệp phụ trợ còn thiếu và chậm phát triển. Tiềm lực khoa học và công nghệ của tỉnh còn thấp; việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu sau khi được đánh giá nghiệm thu vào sản xuất và đời sống còn hạn chế. Tình trạng ô nhiễm môi trường cục bộ ở khu vực nông thôn ngày càng gia tăng.Hiệu quả việc làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh còn hạn chế; chưa xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Cải cách hành chính chuyển biến còn chậm, một số thủ tục hành chính rườm rà, bất hợp lý. Việc giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa liên thông” đạt hiệu quả chưa cao.
Nguyên nhân là do, năng lực dự tính, dự báo còn hạn chế, một số chỉ tiêu đưa ra còn cao, chưa sát với thực tế. Quy mô, trình độ và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh còn thấp, hệ thống kết cấu hạ tầng còn thiếu đồng bộ. Việc cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện một số chủ trương của cấp ủy còn thiếu chủ động và quyết liệt, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện còn hạn chế, trách nhiệm cá nhân chưa được đề cao. Một số cấp ủy Đảng, chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị chưa thật sự coi trọng và quan tâm chỉ đạo việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp quản lý nhà nước và cải cách tài chính công.
Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, tỉnh Hải Dương quyết tâmxây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển nhanh các ngành có lợi thế, có giá trị gia tăng cao; chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và cải thiện môi trường đầu tư. Phát triển kinh tế nhanh đi đôi với  phát triển văn hóa; cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân và gìn giữ, bảo vệ môi trường. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế.Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phấn đấu xây dựng Hải Dương sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.
Bài của Phạm Thắng
Đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ số 5/2015

Thêm bình luận


Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912