Khoa Học Nông Nghiệp 2019-05-06 02:08:04

Ngày 26/4 do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) và Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương tổ chức Hội thảo khoa học “KH&CN phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Đồng bằng sông Hồng”. Tham dự Hội thảo có Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Quốc Doanh; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương Lương Văn Cầu cùng lãnh đạo một số đơn vị trực thuộc Bộ KH&CN; Lãnh đạo các Sở KH&CN thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH); đại diện một số Sở KH&CN, Sở NN&PTNN trên cả nước cùng đông đảo các nhà khoa học và trên 30 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (CNC).

Những năm gần đây, vùng ĐBSHtrở thành vùng nông nghiệp trọng điểm với nhiều vùng sản xuất chuyên canh cây trồng có giá trị phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Các khu nông nghiệp ứng dụng CNC đóng vai trò “đầu tàu”, mở đường cho việc đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp hiện đại. Cùng với đó, xây dựng quy trình CNC tạo ra chuỗi cung ứng, cho ra đời những sản phẩm chất lượng với quy mô sản xuất lớn, chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu.

Trong lĩnh vực trồng trọt,nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, trên những “bờ xôi ruộng mật” chuyên trồng lúa trước đây ở các tỉnh Hà Nam, Hải Dương, Thái Bình, Bắc Ninh…đã hình thành các cánh đồng ứng dụng CNC, cho ra đời những sản phẩm sạch, chất lượng cao, tạo doanh thu hàng tỷ đồng/ha/năm. Vùng ĐBSH cũng được biết đến với các mô hình sản xuất ứng dụng CNC như mô hình trồng các giống dưa thơm Kim hoàng hậu, Kim Cô Lương, Kim Vươngnhập khẩu được sản xuất trong nhà lưới, nhà màn quy mô nông hộ,trồng trên giá thể; sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt và bón phân tự động của Israel; áp dụng công thức dinh dưỡng thủy canh, cung cấp theo nhu cầu của cây trồng; quản lý dịch hại tổng hợp, sử dụng nhiều các sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ. Những mô hình này cho năng suất đạt 45 - 50 tấn/ha, giá bán 18.000 - 20.000 đồng/kg, cho doanh thu từ 810 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/ha.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, CNCđược các địa phương và doanh nghiệp ứng dụng rộng rãi. CNC được ứng dụng rất đa dạng trong việcchọn tạo giống, sản xuất thức ăn chăn nuôi, vaccine thú y phòng chống dịch bệnh, tự động hóa dây chuyền sản xuất và chăm sóc đàn vật nuôi, xử lý ô nhiễm trong chăn nuôi, chế biến sản phẩm chăn nuôi cung ứng thị trường….

Trong lĩnh vực thủy sản,CNC được ứng dụng chủ yếu trong nuôi thủy sản bao gồm công nghệ nuôi thâm canh, công nghệ bioflock, công nghệ lọc nước tuần hoàn, công nghệ sông trong ao. Dự án có quy mô 1,5 ha ao nuôi được cải tạo phù hợp để nuôi thâm canh năng suất cao, ứng dụng các giải pháp kỹ thuật nhằm giảm tối thiểu chi phí năng lượngvà chi phí thức ăn, tối đa hóa sự sinh trưởng. Với mật độ thả 01 con/m2, sau 12 tháng nuôi, cá thương phẩm đạt kích cỡ cá thu hoạch từ 1,5-1,8kg/con.

Trình bày tham luận tại Hội thảo, các đại biểu đến từ các Sở KH&CN, một số trường đại học và doanh nghiệp đã khẳng định, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với nền tảng tích hợp các công nghệ, số hóa kết nối Internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới; tối ưu hóa quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng và quản trị... Đặc biệt, việc ứng dụng CNC, công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào sản xuất nông nghiệp quy mô hàng hoá; thúc đẩy sản xuất theo chuỗi liên kết trong đó doanh nghiệp là hạt nhân liên kết, ứng dụng CNC trong sản xuất và quản trị chu trình sản xuất hàng hoá, truy xuất nguồn gốc, đảm bảo an toàn thực phẩm, gắn với hình thành thương hiệu, góp phần phát triển nông nghiệp nhanh và bền vững.

VinEco cũng nổi tiếng là doanh nghiệp rất thành công khi đầu tư mạnh cho ứng dụng CNC trong trồng rau an toàn. Cuối năm 2015, VinEco chính thức ra mắt thị trường lô rau sạch đầu tiên, khởi động chương trình đầu tư vào nông nghiệp của Tập đoàn Vingroup. Với quyết tâm cao và đầu tư mạnh, chỉ sau hai năm, VinEco đã xây dựng và mở rộng 14 nông trường quy mô và chuyên nghiệp trên cả nước. Các nông trường được quy hoạch thiết kế khoa học gồm khu sản xuất, khu nhà kính, khu sơ chế, đóng gói tự động, khu bảo quản với tổng diện tích sản xuất gần 3.000 ha. Các nông trường VinEco còn tiên phong đưa công nghệ tiên tiến hàng đầu thế giới vào Việt Nam. Điển hình là công nghệ trồng trọt của Kubota (Nhật Bản), công nghệ tưới nhỏ giọt và tưới phun mưa của Netafim (I-xra-en), công nghệ sản xuất trong nhà màng của TAP, trồng cây thủy canh bằng kỹ thuật màng mỏng dinh dưỡng NFT, công nghệ trồng cây rau mầm Microgreen.Để nâng cao hiệu quả kinh doanh, VnEco đã đầu tư nhằm hoàn chỉnh chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến phân phối thông qua hệ thống tiêu thụ của Vinmart và Vinmart+, đảm bảo đưa sản phẩm rau an toàn đến tận tay người tiêu dùng.

Tuy nhiên không chỉ có những tập đoàn hay doanh nghiệp lớn mới đầu tư cho nông nghiệpmà cũng có các doanh nghiệp vừa và nhỏ quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này. Công ty TNHH Xuất khẩu Kinoko Thanh Cao, tuy quy mô không lớn nhưng với định hướng và động viên của Bộ KH&CN, đã mạnh dạn đầu tư nhập dây chuyền hiện đại của Nhật Bản và chọn sản phẩm nấm kim châm là sản phẩm chủ lực. Sau nhiều năm hoạt động, với nỗ lực trong việc ứng dụng CNC, công ty đã thành công khi thu hẹp diện tích nuôi trồng nấm từ 30 ha ban đầu xuống 3.000m2 nhưng doanh thu tăng gấp hơn 10 lần. Hiện nay, công ty sản xuất khoảng 1,5-2 tấn nấm kim châm mỗi ngày, phân phối tại hệ thống siêu thị lớn và các cửa hàng sản phẩm sạch. Năm 2018, công ty đạt doanh thu 17 tỷ đồng.

Từ những mô hình nông nghiệp áp dụng CNC của các doanh nghiệp cho thấy, hoa học thực sự là chìa khóa để phát triển nông nghiệp. Để nhân rộng những mô hình này, ngoài sự mạnh dạn đầu tư của doanh nghiệp, rất cần sự vào cuộc quyết liệt của Nhà nước và chính quyền các cấp trong tháo gỡ khó khăn về tích tụ đất đai và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, nông dân.

Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc cho rằng, ĐBSH là vùng nông nghiệp trọng điểm của các tỉnh phía Bắc, hình thành nhiều vùng sản xuất chuyên canh cây trồng, vật nuôi có giá trị phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Tuy nhiên, sự tác động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản cho các vùng sản xuất nông nghiệp tại đây, nhằm đối phó với sự thiếu hụt nguồn tài nguyên tự nhiên (đất, nước), thiếu hụt nguồn lực lao động, giảm thiểu những mô hình sản xuất nhỏ, manh mún.   Các khu nông nghiệp ứng dụng CNC cần đóng vai trò “đầu tàu”, mở đường cho việc đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp hiện đại. Cùng với đó, xây dựng được các quy trình CNC, cho ra những sản phẩm chất lượng với quy mô sản xuất lớn, tạo ra chuỗi cung ứng đáp ứng được ba yêu cầu: kỹ thuật, chức năng và dịch vụ.Tuy nhiên ngành nông nghiệp còn nhiều khó khăn thách thức như các mô hình ứng dụng CNC còn nhỏ lẻ, phân bố không đồng đều, chưa giảm được nhiều ảnh hưởng của các yếu tố biến đổi khí hậu. Cần phải tổ chức lại sản xuất, phát triển đa dạng tùy theo từng sản phẩm, công nghệ và đặc biệt là tăng cường sự vào cuộc của các doanh nghiệp đầu tư, trong đó có doanh nghiệp liên kết với hộ nông dân.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương Lương Văn Cầu khẳng định: Để đẩy mạnh ứng dụng CNC trong nông nghiệp vùng ĐBSH, cần tăng cường đầu tư nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực KH&CN, chú trọng đào tạo, nâng cao trình độ tiếp thu và ứng dụng KH&CN trong sản xuất nông nghiệp cho người dân, nhất là kiến thức về sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC.

Một số đại biểu cũng đề xuất các giải pháp về KH&CN như: Ưu tiên một số nhiệm vụ KH&CN để thúc đẩy phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC tại vùng ĐBSH được đánh giá là khả thi; Tiến hành một số nghiên cứu để đánh giá việc ứng dụng, chuyển các công nghệ cao của các nước và Việt Nam cho phù hợp với vùng; Đẩy mạnh đưa KH&CN phát triển nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp ứng CNC, nông nghiệp hữu cơ theo chuỗi giá trị tập trung vào các mặt hàng chủ lực xuất khẩu có lợi thế của vùng và địa phương./.

Tin khác

Mô hình trình diễn thương phẩm giống ngô nếp lai HUA 601 và ADI 688 vụ thu đông (26/03/2019)

Hải Dương: Nuôi cá Chạch bùn cho hiệu quả kinh tế cao (04/09/2018)

Một số yêu cầu sản xuất cây vụ đông ở Hải Dương (27/07/2018)

Hiệu quả chăn nuôi hai giống gia cầm mới (27/07/2018)

Xây dựng mô hình duy trì lưu giữ và phát triển Hoa Lan trên địa bàn tỉnh Hải Dương (11/01/2016)

Xây dựng mô hình sản xuất con lai giữa Ngan trống R71 với vịt mái M14 bằng công nghệ thụ tinh .. (11/01/2016)

Xây dựng mô hình sản xuất con lai giữa Ngan trống R71 với vịt mái M14 bằng công nghệ thụ tinh .. (11/01/2016)

Xây dựng mô hình trình diễn trồng giống ngô lai F1 ADI 600 theo phương pháp làm đất tối thiểu... (07/01/2016)

Xây dựng mô hình dâu lai F1-VH15, F1-VH17 phục vụ nuôi tằm tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh.. (07/01/2016)

Xây dựng mô hình nuôi thương phẩm cá chiên (Bagarius yarrelli Sykes, 1941) quy mô nông hộ (07/01/2016)

Lựa chọn một số giống lúa mới chất lượng có đặc tính thơm chống chịu bệnh đạo ôn, bạc lá và rầy nâu (06/01/2016)

Xây dựng mô hình sản xuất lúa chất lượng, kháng bạc lá N20 tại Hải Dương. (06/01/2016)

Đánh giá kết quả của việc dồn điền, đổi thửa và đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ... (06/01/2016)

Dự án Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng vùng sản xuất nông sản tập trung đạt giá trị kinh tế cao... (06/01/2016)

Nghiên cứu phục tráng và phát triển giống lạc đỏ 3 nhân nhằm duy trì chất lượng, nâng cao năng suất (06/01/2016)

Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 01/GP-STTTT do Sở TT&TT cấp ngày 29/06/2015.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0220. 3892436 - Fax: 0220.3893912