Khoa học quản lý (số 3-2016) 0000-00-00 00:00:00

Theo báo cáo tổng kết thì trong 10 năm vừa qua (2005-2015) Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đã triển khai nhiều hoạt động KH-CN và thu được một số kết quả đáng khích lệ, song vẫn còn nhiều tồn tại và chưa thực sự phát huy được tiềm năng và lợi thế trong việc gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ. Bài viết này giới thiệu tóm tắt kết quả nghiên cứu về một số giải pháp thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ (CGCN) của ĐHQGHN cho các tổ chức và doanh nghiệp Việt Nam.

Trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động CGCN của ĐHQGHN cho các tổ chức và doanh nghiệp (DN), nhóm tác giả đã thu thập và phân tích các dữ liệu cứng và dữ liệu mềm để đưa ra một số đánh giá có cơ sở về thực trạng và nguyên nhân chính của những tồn tại trong hoạt động CGCN của ĐHQGHN cho các tổ chức và DN ở các tỉnh thành trên khắp đất nước Việt Nam, trong đó có số lượng không nhỏ các DN của tỉnh Hải Dương. Theo số liệu của Sở kế hoạch, Đầu tư tỉnh Hải Dương, tính đến quý II/2014, tỉnh Hải Dương có gần 6.000 DN hoạt động. Với sự khuyến khích, tạo điều kiện của các sở, ban, ngành, rất nhiều DN có cơ hội tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ các trường đại học lớn như: ĐH Bách Khoa Hà Nội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam và ĐHQGHN trên rất nhiều lĩnh vực, tuy nhiên tập trung chủ yếu vào nông - lâm nghiệp, bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng và dịch vụ du lịch - làng nghề. Từ trường hợp của tỉnh Hải Dương và thông qua các dữ liệu cứng và dữ liệu mềm thu được trong quá trình thực hiện đề tài này cho thấy trong nhiều năm qua, mặc dù có nhiều lợi thế nhưng ĐHQGHN không có nhiều các hoạt động CGCN. Điều này đặt ra vấn đề cấp thiết là ĐHQGHN phải sớm có các giải pháp cụ thể để thúc đẩy và tăng cường các hoạt động chuyển giao tri thức và công nghệ cho các tổ chức và DN Việt Nam nhằm mang lại “các lợi ích kép” cho tất cả các bên tham gia và quan trọng hơn cả là góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu, chất lượng đào tạo và cuối cùng là chất lượng và khả năng cạnh tranh của các trường thành viên và của cả ĐHQGHN.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và các đánh giá ở phần trên, nhóm nghiên cứu đề xuất một số nhóm giải pháp thúc đẩy hoạt động CGCN của ĐHQGHN như sau:
1. Tạo động lực mạnh thông qua các chính sách và cơ chế có hiệu lực về hoạt động chuyển giao công nghệ
a) Chính sách về quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là động lực cơ bản thúc đẩy nghiên cứu và sáng tạo. Bên cạnh các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì việc công bố chính thức và chi tiết chính sách của ĐHQGHN về quyền tác giả và quyền SHTT đối với từng nhóm sản phẩm KH-CN do các tác giả, các nhóm tác giả, các đơn vị sáng tạo ra đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tạo động lực thúc đẩy các cá nhân tiến hành các hoạt động nghiên cứu và CGCN, đồng thời giúp tránh được các khiếu kiện không cần thiết liên quan đến tài sản trí tuệ và chuyển giao một số quyền liên quan tới tài sản trí tuệ khi CGCN.
Theo những số liệu thu thập được, nhóm tác giả thấy đa số các đơn vị và cá nhân chưa coi trọng việc đăng ký quyền tác giả nói riêng và quyền SHTT nói chung. Việc xác định rõ các giới hạn về quyền nhân thân và quyền tài sản trong quyền tác giả đối với các sản phẩm KH-CN trong các lĩnh vực khác nhau là khá phức tạp và phải dựa vào quy chế và phân chia các giới hạn này theo đóng góp cho sáng tạo của mỗi cá nhân. Song có một điều cốt lõi là ý tưởng sáng tạo đột phá thông thường đều xuất phát từ những cá nhân có đam mê nghiên cứu. Cho nên cần phải tôn trọng tối đa các quyền tác giả và quyền về tài sản trí tuệ của cá nhân sáng tạo KH-CN.
b) Chính sách đấu thầu rộng rãi các đề tài và dự án sử dụng ngân sách nhà nước do ĐHQGHN chủ trì
Nhiều thành viên nhóm nghiên cứu đã có trải nghiệm thực tế với các “thủ tục xin-cho phức tạp và tốn kém thời gian” khi đăng ký đề xuất ý tường sáng tạo và đề tài KH-CN cấp nhà nước và cấp bộ... Có nhiều nhà KH-CN tham gia ý tưởng và biên soạn đề án, chương trình từ đầu nhưng khi được Nhà nước cấp vốn và triển khai thì không được mời tham gia đấu thầu các đề tài hay dự án trong các chương trình này. Thời gian sẽ trả lời kết quả và hiệu quả của các chương trình này nhưng có thể dự đoán ngay từ bây giờ là nhiều kết quả của đề tài nghiên cứu ứng dụng và dự án thử nghiệm sẽ khó có thể được chuyển giao và nếu có được chuyển giao thì cũng khó có thể giúp các DN có được các sản phẩm mới và dịch vụ mới cạnh tranh trên thị trường trong nước, nếu như không có các thay đổi trong cách tiếp cận và quản trị các dự án KH-CN liên quan. Một trong những thay đổi đó là tổ chức đấu thầu công khai và rộng tãi để thu hút được các nhóm năng lực sáng tạo.
c) Cơ chế chuyển giao công nghệ
Cơ chế chính thức là thông qua hợp đồng và nên đăng ký CGCN thông qua một trung tâm dịch vụ CGCN không vì lợi nhuận (not-for-profit) của ĐHQGHN có thể gọi là “Trung tâm chuyển giao tri thức và công nghệ” (TT).
Nếu có quy định rõ ràng về cơ chế CGCN gắn với quyền và trách nhiệm của các bên liên quan thì số lượng các công nghệ được chuyển giao theo cơ chế chính thức sẽ tăng, chứ không chỉ dừng ở con số tham khảo khá khiêm tốn so với vị thế và năng lực KH-CN của ĐHQGHN.
2. Chính sách hỗ trợ tài chính không hoàn lại cho các nhóm nghiên cứu ứng dụng có cam kết sẽ chuyển giao công nghệ
Bên cạnh các nhóm nghiên cứu cơ bản, thì nếu muốn có các nhóm nghiên cứu và CGCN thì ĐHQGHN phải có chính sách tài chính hỗ trợ theo hình thức không hoàn lại bằng bất kỳ hình thức nào, kể cả việc chia sẻ quyền tác giả hay quyền SHTT, miễn là kết quả các nghiên cứu công nghệ đó sẽ được chuyển giao thông qua TT. Điều này làm tăng uy tín thương hiệu ĐHQGHN và tạo thêm nhiều động lực thúc đẩy các nhóm nghiên cứu ứng dụng phát triển.
3. Tăng cường đầu tư cho các hoạt động PR, truyền thông, marketing nhằm nâng cao độ nhận biết của các tổ chức và DN Việt Nam về các sản phẩm KH-CN chào chuyển giao và các tiềm năng cùng hợp tác và nghiên cứu phát triển công nghệ
Theo phỏng vấn trực tiếp các nhà khoa học thì đa số đều trả lời một trong những khó khăn lớn nhất khi thực hiện nghiên cứu KH-CN là khó tiếp cận với nhu cầu đa dạng của gần 500.000 DN Việt Nam. Cá nhân các giảng viên kiêm nhà KH-CN của ĐHQGHN có thể vì bận hay vì thiếu phương pháp, nhưng với một thị trường lớn và số DN liên tục tăng hàng năm với các nhu cầu đổi mới công nghệ liên tục thì đây thực sự là thị trường triển vọng cho các hoạt động chuyển giao công nghệ của ĐHQGHN. Vấn đề là phương pháp kết nối các nhà KH-CN và ĐHQGHN với cộng đồng DN theo các nhóm ngành như thế nào và phải làm gì để họ tin tưởng và hợp tác với các nhà KH-CN quen ngồi trong “tháp ngà” hơn là ngoài thương trường.
Chính vì vậy ĐHQGHN có thể giao kế hoạch hàng năm cho đơn vị đầu mối hay TT thực hiện nhiều hình thức PR, truyền thông, marketing đa dạng nhằm nâng cao độ nhận biết của các tổ chức và DN Việt Nam về năng lực nghiên cứu, năng lực hợp tác nghiên cứu và năng lực chuyển giao các công nghệ tiên tiến và mới. Cá nhân các nhà KH-CN dù có sáng tạo có thể chuyển giao cũng khó có thể tự làm tất cả các công việc nêu trên. Vì vậy cần một đầu mối làm nhiều việc một lúc cho tất cả các nhà KH-CN để tiết kiệm thời gian, chi phí và tăng hiệu quả. Thời gian và tốc độ vẫn là quan trọng nhất bởi vì nếu chậm giới thiệu và quảng bá thì sau 3-5 năm nữa các công nghệ hiện đại hôm nay vẫn sẽ nằm trong ngăn tủ lưu trữ.
4. Mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về quản trị KH-CN và CGCN cho các giảng viên kiêm nhà KH-CN và các nhà quản trị KH-CN có quan tâm để nâng cao nhận thức và mở rộng tầm nhìn về hoạt động CGCN từ trường đại học cho các tổ chức và DN
Trong báo cáo tổng kết hoạt động KH-CN 2014 phần hạn chế và tồn tại có nêu việc “… nhiều cán bộ quản trị KH&CN chưa được tập huấn và bồi dưỡng nghiệp vụ, khả năng tham mưu và xây dựng kế hoạch chưa tốt. Hầu hết các đơn vị còn thiếu cán bộ làm truyền thông KH&CN và đội ngũ làm công tác chuyển giao khoa học công nghệ”. Điều này cũng dễ hiểu vì đa số giảng viên kiêm nhà KH-CN không quen với các giao dịch trên trị trường buôn bán thiết bị và CGCN. Đa số các nhà quản trị KH-CN đều là các nhà khoa học tham gia trực tiếp hay gián tiếp hay kiêm nhiệm trong các quy trình quản trị KH-CN các cấp. Các quy trình quản trị theo các luật và quy định thường cố định và ít thay đổi theo môi trường kinh doanh bên ngoài. Hơn nữa không phải nhà KH-CN nào cũng có thời gian và quan tâm tới việc tìm hiểu các khái niệm, định nghĩa, nội hàm công nghệ, công cụ phân loại, phương pháp đánh giá công nghệ, phương pháp CGCN, tranh chấp về tài sản trí tuệ trong hợp đồng CGCN,… Chính vì vậy các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về quản trị KH-CN và CGCN cần được tổ chức định kỳ và thường xuyên để giúp các giảng viên kiêm nhà KH-CN nâng cao nhận thức và mở rộng tầm nhìn về hoạt động CGCN từ trường đại học cho các tổ chức và DN. Bên cạnh đó, kết hợp trao đổi các chuyên đề các trường hợp ví dụ cụ thể về thành công và thất bại trong các hợp đồng CGCN để cùng nhau rút ra các bài học kinh nghiệm. Không những vậy, cần kết hợp đào tạo với tuyên truyền các chính sách, cơ chế và đặc biệt là quy chế của ĐHQGHN về quản trị hoạt động CGCN.
Kết luận
Phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ luôn được coi là quốc sách hàng đầu của Việt Nam. Khoa học và công nghệ luôn được coi là nền tảng và là động lực cho phát triển bền vững của Việt Nam. Con người trong đó có các giảng viên kiêm nhà KH-CN luôn luôn là trung tâm của phát triển bền vững của Việt Nam. Vậy thì để tránh các lãng phí nguồn lực như hiện nay, các nhà quản lý hay quản trị các cấp, đặc biệt là các trường cần phải đổi mới căn bản tư duy và tạo dựng ngay môi trường thuận lợi và động lực đủ mạnh để thúc đẩy các hoạt động CGCN từ trường đại học cho các tổ chức và DN Việt Nam.
PGS.TS. Hoàng Đình Phi,  Ths. Phạm Thị Bích Ngọc
Khoa Quản trị Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1)        Luật Chuyển giao Công nghệ 2006.
(2)        Luật Khoa học và Công nghệ 2013.
(3)        Hoàng Đình Phi (2012), Quản trị công nghệ, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
(4)        Gary D. Libecap, University Entrepreneurship and Technology Transfer, Emerald Publisher, 2005.
(5)        Các tài liệu điều tra, phỏng vấn, báo cáo tổng hợp kết quả khảo sát “hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ từ các trường đại học các tổ chức và DNVN” của Nhóm tác giả: Hoàng Đình Phi, Phạm Thị Bích Ngọc, Nguyễn Ngọc Anh
Bài đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Hải Dương số 3 ra tháng 6/2016

Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 235/GP-BC do Bộ TT&TT cấp ngày 06/05/2008.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0320. 3892436 - Fax: 0320.3893912