Một số loài trai nước ngọt được tìm thấy ở phía Bắc

1. Loài trai đen cánh dầy: Tên khoa học (Hyriopsis cumingii lea)

Phân bố chủ yếu ở các sông như sông Cầu, sông Thương, sông Châu Giang (Hà Nam) sông Đáy, sông Nhuệ. Trai đen cánh dầy sinh sống tập trung ở những vùng nước chảy, thường tìm thấy ở khu vực giữa sông. Trai đen cánh dầy có hình dạng bên ngoài hình tam giác cân, vỏ màu đen bên trong có màu tím nhạt hoặc màu tím Huế. Màu sắc bên ngoài và màu sắc xà cừ bên trong phụ thuộc chủ yếu vào vùng nuôi (chất đáy) mà chúng sinh sống, trai đen cánh dầy có lớp xoang màng áo ngoài dầy rộng. Mùa sinh sản chính vào cuối tháng 03, đến cuối mùa thu,  sinh sản rải rác.

Một số loài trai nước ngọt được tìm thấy ở phía Bắc

2. Loài trai xanh cánh mỏng: Tên khoa học (Cristaria bialata lea)

 Phân bố ở đầm Vạc, thung, sông Vạc ở (Vĩnh Phúc), Phú Xuyên, Thanh Trì (Hà Nội), các huyện Gia Viễn, Nho Quan, Yên Mô, … (Ninh Bình). Loài trai xanh cánh mỏng sinh sống ở vùng nước tĩnh, chủ yếu ở đáy bùn cát hoặc bùn nhuyễn phù sa trong các sông, ao đầm, hồ vùng đồng bằng và trung du. Loài trai này có màu sắc bên ngoài màu xanh hoặc xanh nâu. Sinh sản vào đầu mùa hạ. Loài trai xanh nuôi trong ao vẫn sinh sản bình thường.

Trước năm 1975 gặp phổ biến trong các sông, đầm, hồ vùng đồng bằng Bắc Bộ mật độ khoảng 2 đến 5 con/m2 nền đáy. Hàng năm vào mùa hè ở Đầm vạc (Vĩnh Phúc) và hồ Tây (Hà Nội) nhân dân địa phương khai thác hàng trăm kilogam/ngày. Từ năm 1990 đến nay lượng khai thác hàng năm tăng đã làm giảm số lượng rõ rệt, có thể giảm tới 20% số lượng biến động theo từng năm (phụ thuộc vào mức độ khai thác). Diện tích phân bổ trước năm 1975 vào khoảng 15.000km2. Hiện nay các đầm hồ bị san lấp nhiều, mặt khác do sự ô nhiễm các sông hồ làm diện tích phân bố giảm đi rõ rệt, ước tính chỉ còn khoảng 2.000 km2.

 Hiện các loài trai này đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam và danh sách các loài cần được bảo vệ khẩn cấp của ngành Thủy sản, từ năm 1996 ngành Thủy sản đã kiến nghị: Cần giảm cường độ khai thác, chỉ khai thác vào mùa vụ không sinh sản, khai thác luân phiên địa điểm, chống ô nhiễm môi trường nguồn nước sông và các khu vực cư trú quan trọng của loài.  

3. Loài trai đồng: Tên khoa học (Sinanodonta elliptica Heude) 

Loài trai đồng phân bổ rộng khắp ở các thủy vực nước tĩnh, đồng ruộng, ao hồ, …; nuôi trong ao trai lớn nhanh, mang trứng rộ vào tháng 11 đến tháng 03, trai sinh sản tự nhiên trong ao. Loài trai đồng có hình dạng bầu như hình bàn tay úp không có cánh. Bên ngoài có mầu xanh nâu, lớp xà cừ bên trong có mầu xanh cổ vịt hoặc trắng hồng.

4. Loài trai Cóc tròn: Tên khoa học (lamprotula nodulosa)

Phân bố ở sông Cầu, sông Đáy, sông Thao, sông Nhuệ. Loài trai này sống ở khu vực có dòng chảy mạnh chủ yếu là khu vực giữa sông. Trai cóc có 08 loài: Trai cóc bầu dục (Lamprotula liedtkei); Trai cóc dầy (Gibosula crassa); Trai cóc hình lá (Lamprotula blasei); Trai cóc hình tai (Lamprotula leai); Trai cóc mẫu sơn (Contradenssemmelincki funtuni); Trai cóc nhẫn (Cuneopsis demangei); Trai cóc tròn (Lamprotula nodulosa); Trai cóc vuông (Protunio messageri) 

Loài trai Cóc tròn có hình dạng thon tròn, lớp vỏ bên ngoài mầu nâu sẫm, sần sùi như da cóc. Lớp xà cừ ở dạng đá vôi nên loài trai này không phải đối tượng dùng để cấy ghép hoặc bóc tách lấy tế bào. Trai cóc  có vỏ rất dầy, dai. Con to vỏ có độ dầy lên tới 2cm mầu trắng đục, sử dụng vỏ của loài trai này cắt vuông đưa vào máy quay ly tâm quay tròn sau đó dùng Axid Chlohydric (HCI)  đánh bóng làm nhân cấy.

Vũ Văn Tân (Tổng hợp và sưu tầm)


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây