Lĩnh vực Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng 0000-00-00 00:00:00

PHẦN 1. MỞ ĐẦU  1.1. Sự cần thiết phải ban hành Quy chuẩn kỹ thuật địa phương (QCKTĐP) quy định về chất lượng nước sạch Nước sạch có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống, sức khỏe con người, nước chiếm 70% trọng lượng cơ thể và có một vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc sống, sức khỏe (chuyển hóa, thải độc, vận chuyển dinh dưỡng và dưỡng khí, điều hòa thân nhiệt…). Nước đồng thời cũng là yếu tố gây nên các bệnh lây nhiễm và các bệnh không lây nhiễm nếu việc cấp nước không tuân thủ đảm bảo an toàn - nước bị nhiễm bẩn. Tuy nhiên, hiện nay an ninh nguồn nước sinh hoạt của cả nước nói chung và Hải Dương nói riêng đã, đang và sẽ còn là vấn đề hết sức nóng, cần sự quan tâm đúng mực của các cấp chính quyền, của cộng đồng và của mọi người dân. Vấn đề này rất cần sự nỗ lực, ý thức trách nhiệm của các cơ quan chức năng và quyết tâm của cả hệ thống chính trị.

Tỉnh Hải Dương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, tiếp giáp với 6 tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình và Hưng Yên. Hệ thống giao thông đường bộ đường sắt đường sông phân bố hợp lý, trên địa bàn có nhiều trục giao thông quốc gia quan trọng chạy qua như đường 5, đường 18, đường 183 và hệ thống đường tỉnh, huyện đã được nâng cấp cải tạo rất thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi với bên ngoài.

Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 - 1.700 mm. Nhiệt độ trung bình 23,30C; số giờ nắng trong năm 1.524 giờ; độ ẩm tương đối trung bình 85 - 87%. Khí hậu thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả đặc biệt là sản xuất cây rau mầu vụ đông.

Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.662 km2, vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc thành phố Chí Linh và 18 xã thuộc thị xã Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất mầu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.

Hải Dương hiện nay đã và đang xảy ra ô nhiễm môi trường tại một số sông thuộc hệ thống sông Bắc Hưng Hải và một số ao, hồ, kênh mương thuộc các khu đô thị và nông thôn có làng nghề. Nguyên nhân ô nhiễm là do ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, canh tác nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và nước rỉ từ các bãi rác. Tại các khu, cụm công nghiệp, ô nhiễm môi trường tập trung ở những ngành nghề công nghiệp nặng như sản xuất xi măng, sắt thép, luyện kim…

Đặc điểm các nguồn nước nguyên liệu phục vụ cho các nhà máy nước sạch trên địa bàn tỉnh Hải Dươnglà 95% nguồn nước mặt và 5% nguồn nước ngầm. Theo số liệu báo cáo của Sở Tài Nguyên và Môi trường tổng số mẫu nước bề mặt tại các sông lớn làm xét nghiệm theo QCVN 08-MT:2015/BTNMTlà 312 mẫu trong đó có 141 mẫu có các chỉ tiêu xét nghiệm đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 45,1%  còn 171 mẫu không đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 54,9% và tổng số mẫu nước ngầm làm xét nghiệm theo QCVN 09-MT:2015/BTNMTlà 162 mẫu trong đó có 15 mẫu có các chỉ tiêu xét nghiệm đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 9,2% còn 147 mẫu không đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 81,8%.

Để kiểm soát về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt, Bộ Y tế đã ban hành QCVN 01-1:2018/BYT kèm theo Thông tư số 41/2018/TT-BYT ngày 14/12/2018 của Bộ Y tế. UBND tỉnh/thành phố cần ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương có hiệu lực trước tháng 7/2021.

Đối với QCVN 01-1: 2018/BYT với 99 chỉ tiêu, trong đó có 08 chỉ tiêu chất lượng nhóm A (tần suất giám sát 1 tháng/lần); 91 chỉ tiêu chất lượng nhóm B (tần suất giám sát 6 tháng/lần) Trong quá trình áp dụng quy chuẩn này kể từ khi ban hành tới nay còn một số tồn tại cần phải khắc phục, cụ thể như sau:

Có nhiều chỉ tiêu chất lượng nước quy định trong QCVN 01:1 không có trong nước thành phẩm cấp tại Hải Dương do không có nguồn phát sinh và theo kết quả đánh giá trong nhiều năm, không phát hiện thấy hoặc có hàm lượng thấp hơn giới hạn cho phép. Nên việc đánh giá toàn bộ 99 chỉ tiêu chất lượng nước là không thực sự cần thiết đối với trường hợp tại Hải Dương và gây lãng phí nguồnlực.

Bên cạnh đó, nếu quy định 99 chỉ tiêu bắt buộc phải giám sát định kỳ theo QCVN 01-1: 2018/BYT cũng sẽ tạo ra gánh nặng chi phí cho người sử dụng nước, hơn nữa, chi phí này nhiều khi được xem là sự lãng phí khi rất nhiều chỉ tiêu không được phát hiện trong nước thành phẩm mà vẫn phải phân tích xác định nồng độ hằng năm.

Kế hoạch cấp nước an toàn (WSP), dưới sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đã được áp dụng tại Việt Nam từ năm 2006, đến nay đã ở giai đoạn thứ 3 của chương trình. Cách tiếp cận mới này không chỉ là một phương tiện hữu hiệu để quản lý các rủi ro nhằm giảm thiểu những tác động gây ra cho sức khỏe cộng đồng (các bệnh lây truyền qua đường nước) mà còn giúp kiểm soát chất lượng quá trình sản xuất/xử lý nước, từ đó giảm gánh nặng cho các đơn vị liên quan do phải phân tích quá nhiều chỉ tiêu chất lượng nước, giảm số lượng chỉ tiêu cần phân tích và giúp đơn vị tiết kiệm được kinh phí xét nghiệm. Do đó, xây dựng QCKTĐP về chất lượng nước sạch là hết sức cần thiết ở giai đoạn hiện nay.

Căn cứ vào tình hình thực tế, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ theo Quyết định của UBND tỉnh về việc thành lập Ban soạn thảo, tổ giúp việc xây dựng dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Ban soạn thảo tổng hợp kết quả lựa chọn các thông số kỹ thuật chất lượng nước sạch xây dựng dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hải Dương như sau:

1.2 Cách thức tiếp cận

Trên cơ sở yêu cầu thực tiễn, việc ban hành QCĐP về chất lượng nước sạch dành cho ăn uống và sinh hoạt sẽ được phát triển dựa trên các hướng tiếp cận mới, cụ thể:

  • Không thực hiện phân chia nước cấp thành nước ăn uống và sinh hoạt, theo đó sẽ chỉ có một đối tượng điều chỉnh là nước sạch dùng cho mục đích ăn uống và sinh hoạt thông thường.
  • Đề cao vai trò tự chịu trách nhiệm đối với “hàng hóa” là nước sạch dùng cho mục đích ăn uống và sinh hoạt của các cơ sở cung cấp nước.
  • QCĐP sẽ quy một số các chỉ tiêu có tầm quan trọng và tần suất xuất hiện cao đối với chất lượng nước là phải bắt buộc xét nghiệm định kỳ và thường xuyên thể hiện đặc trưng chất lượng nước của tỉnh Hải Dương.
  • Sẽ không phân biệt chất lượng nước dành cho ăn uống và sinh hoạt giữa nông thôn và thành thị nhằm tạo sự bình đằng trong tiếp cận nguồn nước.

1.3. Phương pháp thực hiện

                      1.3.1. Phương pháp kế thừa

Trong báo cáo thuyết minh này, chúng tôi đã kế thừa các quy định của QCVN 01-1:2018/BYT-Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt.

1.3.2. Phương pháp hồi cứu

Căn cứ kết quả giám sát, xét nghiệm chất lượng nước sạch tại đơn vị  cấp nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương của Trung tâm kiểm soát bệnh tật và kết quả quan trắc chất lượng chất lượng nước bề mặt và nước ngầm của Sở Tài Nguyên Môi trường trong những năm qua để xem xét và lựa chọn các thông số có tầm quan trọng, đặc trưng liên quan đến chất lượng nước.

1.3.3. Phương phápđiều tra cắt ngang

Phương pháp này bao gồm điều tra, khảo sát thực địa, phỏng vấn, lấy mẫu nước xét nghiệm cho các hoạt động đánh giá chất nguồn nước mặt, nước sạch, công nghệ sử dụng trong sản xuất nước sạch và công tác quản lý, giám sát chất lượng nước mặt.

1.3.4. Phươngphápthảoluậnnhóm

Trongnhiệm vụnày, phươngphápthảoluậnnhómlàviệccác thành viên ban soạn baogồmSở Y tế, Sở KH&CN, Sở TN&MT, Sở Xây Dựng, Công ty cấp nước….đã thảoluậnvềcáchtiếpcậntrongxâydựngQCĐPvềchấtlượngnướcdànhchosinhhoạt,cácthôngsốvàtần suất giám sát sẽđượclựa chọn.

1.3.5. Phương pháp ma trận

          Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở thực tế về điều kiện địa hình địa chất, các nguồn phát sinh các thông số ô nhiễm để cho điểm nguy cơ đối với từng thông số nước sạch từ đó xem xét có đưa vào QCĐP hay không.

PHẦN 2.  KẾT QUẢ THỰC HIỆN

2.1. Cơ sở lựa chọn thông số

2.1.1.Đặc điểmđịa hình, đất đai thổ nhưỡng tỉnh Hải Dương

Tỉnh Hải Dương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 - 1.700 mm. Nhiệt độ trung bình 23,30C; số giờ nắng trong năm 1.524 giờ; độ ẩm tương đối trung bình 85 - 87%. Khí hậu thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả đặc biệt là sản xuất cây rau màu vụ đông.

Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.662 km2, vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc thành phố Chí Linh và 18 xã thuộc thị xã Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất mầu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.

Tài nguyên khoáng sản của Hải Dương không đa dạng về chủng loại, nhưng có một số loại trữ lượng lớn, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp; đặc biệt là công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng

- Đá vôi xi măng ở thị xã Kinh Môn, trữ lượng 200 triệu tấn, chất lượng tốt, CaCO3 đạt 90 - 97%. Đủ sản xuất 5 đến 6 triệu tấn xi măng/ năm.

- Cao lanh ở thị xã Kinh Môn, thành phố Chí Linh trữ lượng 40 vạn tấn, tỷ lệ Fe2O3: 0,8 - 1,7%; Al2O3: 17 - 19% cung cấp đủ nguyên liệu cho sản xuất sành sứ.

- Sét chịu lửa ở thành phố Chí Linh, trữ lượng 8 triệu tấn, chất lượng tốt; tỷ lệ Al2O3 từ 23,5 - 28%, Fe2O3 từ 1,2 - 1,9% cung cấp nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa

- Bô xít ở thị xã Kinh Môn, trữ lượng 200.000 tấn; hàm lượng Al2O3 từ 46,9 - 52,4%, Fe2O3 từ 21 - 26,6%; SiO2 từ 6,4 - 8,9%.

(http://www.mpi.gov.vn/Pages/tinhthanhchitiet.aspx?idTinhThanh=10)

Như vậy với đặc điểm về địa hình đất đai, thổ nhưỡng phong phú của tỉnh, các chất tự có trong nước ứng với từng loại đất cần được đưa vào để kiểm soát chất lượng nước.

2.1.2.Thực trạngnguồn nước, các yếu tố gây ô nhiễm nguồn nước

2.1.2.1. Thực trạng về nguồn nước bề mặt

Hải Dương có 16 tuyến sông chính nối với các sông nhỏ dài400 km đường sông cho tầu, thuyền 500 tấn qua lại dễ dàng.

2.1.2.2.Chất lượng nguồn nước mặtvà nước ngầm

Đặc điểm các nguồn nước nguyên liệu phục vụ cho các nhà máy nước sạch trên địa bàn tỉnh Hải Dươnglà 95%  nguồn nước mặt và 5% nguồn nước ngầm.

Theo số liệu báo cáo của Sở Tài Nguyên và Môi trường tổng số mẫu nước bề mặt tại các sông lớn làm xét nghiệm theo QCVN 08-MT:2015/BTNMTlà 312 mẫu trong đó có 141 mẫu có các chỉ tiêu xét nghiệm đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 45,1%  còn 171 mẫu không đạt theo quy chuẩn chiểm tỉ lệ 54,9% và tổng số mẫu nước ngầm làm xét nghiệm theo QCVN 09-MT:2015/BTNMTlà 162 mẫu trong đó có 15 mẫu có các chỉ tiêu xét nghiệm đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 9,2% còn 147 mẫu không đạt theo quy chuẩn chiểm tỉ lệ 81,8%.

        Bảng 2.1. Kết quả thử nghiệm nước bề mặt và nước ngầm thu thập năm 2017- năm 2019

Đối với nước mặt

Tổng số mẫu

QCVN 08-MT:2015/BTNMT

Đạt

Không đạt

Chỉ tiêu không đạt

312

312

141

171

TSS, NO2- - N, NH4+-N, DO

Tổng số mẫu làm xét nghiệm theo QCVN 08-MT:2015/BTNMTlà 312 mẫu trong đó có 141 mẫu có các chỉ tiêu xét nghiệm đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 45,1% còn 171 mẫu không đạt theo quy chuẩn chiểm tỉ lệ 54,9%.

Đối với nước ngầm

Tổng số mẫu

QCVN 09-MT:2015/BTNMT

Đạt

Không đạt

Chỉ tiêu không đạt

162

162

15

147

pH, TSS, COD, NH4+-N, Mn, Cl, Fe, độ cứng

Tổng số mẫu làm xét nghiệm theo QCVN 09-MT:2015/BTNMTlà 162 mẫu trong đó có 15 mẫu có các chỉ tiêu xét nghiệm đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 9,2% còn 147 mẫu không đạt theo quy chuẩn chiểm tỉ lệ 81,8%.

Bảng 2.2. Kết quả quan trắcnước thải các khu công nghiệp

Tổng số mẫu

QCVN 40:2011/BTNMT

Đạt

Không đạt

Chỉ tiêu không đạt

134

134

117

17

BOD; NH4+; N tổng; P tổng; coliform; Độ màu; COD; TSS; Cl- ; S2-

Theo kết quả Quan trắc nước thải tại các khu công nghiệp từ năm 2016- tháng 6/2020 của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Hải Dương: tổng số mẫu quan trắc theo QCVN 40:2011/BTNMT là 134 mẫu, trong đó có 117 mẫu có chỉ tiêu xét nghiệm đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 87,3 % còn 17 mẫu không đạt chiếm tỉ lệ 12,7%.

2.1.2.3. Các yếu tốcó nguy cơgây ô nhiễm nguồn nước

- Phát triển kinh tế xã hội: Nhu cầu nước tăng mạnh theo đà phát triển kinh tế đã đang gây sức ép lớn đến chất lượng, số lượng của các nguồn tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh để đáp ứng cho các ngành và bảo vệ nguồn nước không bị suy thoái, cạn kiệt, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước thực sự thách thức lớn đối với công tác quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh.

- Suy thoái và cạn kiệt nguồn nước: suy thoái, ô nhiễm nguồn nước là một trong những yếu tố bất lợi, đe dọa nghiêm trọng đến môi trường sống và khả năng khai thác, sử dụng nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh.

- Ô nhiễm nguồn nước: Trong những năm qua, sự tăng nhanh về dân số, tốc độ đô thị hóa nhanh, cùng với việc phát triển các khu công nghiêp (KCN), trung tâm công nghiệp, các làng nghề nhưng chưa có biện pháp quản lý chặt chẽ và xử lý chất thải theo quy định đã và đang là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước. Từ nhiều năm qua, nguồn nước mặt (đặc biệt là khu đô thị, thị xã, thị trấn, các KCN, cụm nông nghiệp, khu vực các làng nghề) là nơi tiếp nhận nước thải, chất thải của rất nhiều các loại hình hoạt động sản xuất, bao gồm: nước thải, chất thải phát sinh từ sinh hoạt, công nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, các làng nghề, hoạt động khai thác khoáng sản.Chất thải, đặc biệt là nước thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn đã làm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước nói chung và chất lượng nguồn nước mặt nói riêng trên địa bàn tỉnh.

- Tác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH): BĐKH được dự báo làm tăng thêm những tác động bất lợi đến tài nguyên.

2.1.2.4.Các hoạt động gây ô nhiễm nguồn nước

Một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước mặt là việc nước thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề… trên địa bàn tỉnh chưa được xử lý.

  1. Hoạt động nông nghiệp

Hoạt động nông nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển nhiều lĩnh vực trong đó thế mạnh là trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Loại cây trồng chủ yếu là nông sản, cây công nghiệp và cây ăn quả. Các loại thuốc bảo vệ thực vật hay sử dụng cụ thể như sau:

Theo thống kê của Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh ngày 08/5/2020 trên địa bàn tỉnh Hải Dương có các loại hóa chất bảo vệ thực vật thường dùng như:

TT

Tên thông số

Các hóa chất thường hay dùng trên địa bàn

Ghi chú các hóa chất tồn dư trong nước

1

Chlorpyrifos

x

Không tồn dư lâu, dễ phân hủy trong môi trường PH>7.

2

Permethrin

x

Hầu như không tan trong nước

3

Atrazine và các dẫn xuất

x

Atrazine là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm nguồn nước tại Mỹ

4

MCPA

x

Ít tồn dư trong nước

5

Simazine

x

Tan ít trong nước

6

Trifuralin

x

Tan ít trong nước

7

Propanil

x

Độ bền trong đất kéo dài vài tuần

                                             

  1. Hoạt động công nghiệp

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 11 khu công nghiệp được quy hoạch, loại hình sản xuất là đa ngành.

Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương

1. KHU CÔNG NGHIỆP NAM SÁCH

Địa điểm

Phường Ái Quốc, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Ngành nghề thu hút đầu tư theo quy hoạch

- Công nghệ dệt may: Các nhà máy sản xuất sợi, len, dệt, nhuộm; May xuất khẩu;

- Sản xuất giầy dép xuất khẩu, sản phẩm da cao cấp;

- Công nghiệp giấy;

- Chế biến nông - lâm sản;

- Các nhà máy sản xuất gốm - sứ - thủy tinh cao cấp;

- Thu gom vận chuyển lưu giữ và xử lý chất thải;

- Sản xuất kinh doanh các sản phẩm từ Polyethylene; Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ nhựa và cao su; Sản xuất gia công các sản phẩm từ sắt và nhôm; Sản xuất bao bì; Sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm.

2. KHU CÔNG NGHIỆP ĐẠI AN

Địa điểm

Km 51, quốc lộ 5, phường Tứ Minh, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Ngành nghề thu hút đầu tư theo quy hoạch

- Các xí nghiệp chế biến thực phẩm và sản phẩm nông nghiệp; dệt may và sản xuất hàng tiêu dùng; sản xuất phụ tùng và lắp ráp xe máy; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ;

- Sản xuất và lắp ráp thiết bị điện, linh kiện điện tử, cơ khí chế tạo; Sản xuất thuốc và thiết bị y tế, thực phẩm chức năng; Chế tác kim cương, kính mắt, nhựa; Sản xuất trang thiết bị nội thất, thiết bị trường học; Sản xuất khuôn gốm chịu nhiệt; Pha loãng và phân phối sản phẩm hóa học; Sản xuất chất phụ gia công nghiệp; Sản xuất thiết bị phòng cháy chữa cháy; Sản xuất bao bì, in ấn; Sản xuất hàng gia dụng.

3. KHU CÔNG NGHIỆP PHÚC ĐIỀN

Địa điểm

Xã Cẩm Phúc, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

Ngành nghề thu hút đầu tư theo quy hoạch

- Công nghiệp điện tử;

- Công nghiệp gia công cơ khí và lắp ráp;

- Công nghệ dệt may và sản xuất hàng tiêu dùng;

- Công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp; Các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ truyền thống của địa phương;

- Ngành nghề mua bán thiết bị chế tạo khuôn mẫu; Sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nhựa trong văn phòng phẩm, chế phẩm thiết bị điện; Sản xuất kinh doanh tem nhãn các loại; Sản xuất kinh doanh các sản phẩm cáp điện; Kinh doanh kho bãi.

4. KHU CÔNG NGHIỆP TÂN TRƯỜNG

Địa điểm

Xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

Ngành nghề thu hút đầu tư theo quy hoạch

- Công nghiệp điện, điện tử điện lạnh: Xí nghiệp lắp ráp máy vi tính; Lắp ráp vô tuyến và các thiết bị điện tử; Lắp ráp tủ lạnh điều hòa nhiệt độ; Sản xuất dây cáp điện;

- Công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm: Sản xuất mây tre đan; Chế biến gỗ - ván ép - ván dăm; Sản xuất đồ uống giải khát; Sản xuất thức ăn gia súc; Sản xuất đồ hộp thực phẩm;

- Công nghiệp gốm sứ thủy tinh cao cấp: Sản xuất bột nhẹ; Gốm sứ gia dụng; Gốm sứ xây dựng; Kính và thủy tinh cao cấp;

- Công nghiệp sản xuất giấy, bao bì: Sản xuất giấy, bao bì;

- Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, dệt may da giầy: Sản xuất đồ gỗ gia dụng, trang thiết bị nội thất; Trang thiết bị đồ gia đình; Dệt và may mặc; Sản xuất giầy dép xuất khẩu, sản phẩm da cao cấp;

- Các ngành công nghiệp khác.

5. KHU CÔNG NGHIỆP ĐẠI AN MỞ RỘNG

Địa điểm

Phường Tứ Minh, thành phố Hải Dương và các xã Cẩm Đông, Cẩm Đoài, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

Ngành nghề thu hút đầu tư theo quy hoạch

- Nhóm các dự án điện tử, viễn thông: Sản xuất, gia công, lắp ráp linh kiện điện, điện tử, viễn thông; Sản xuất máy phát điện, máy biến thế và thiết bị điện;

- Nhóm các dự án về cơ khí: Sản xuất, lắp ráp nhôm; gia công các sản phẩm mạ, phun phủ, đánh bóng kim loại (ngành nghề mạ, luyện kim thuộc công đoạn nhỏ cho sản phẩm); Sản xuất và lắp ráp ôtô, xe máy và các phương tiện vận tải, cấu kiện kim loại;

- Dự án chế biến gỗ, sản xuất thủy tinh, gốm, sứ: Chế biến, sản xuất dăm gỗ, ván ép, gỗ, đồ gỗ; Sản xuất gia công thủy tinh, gốm, sứ; Sản xuất bao bì, bìa cartong, palet thép, palet gỗ;

- Dự án chế biến thực phẩm, nước giải khát: Sản xuất thực phẩm, thức ăn chăn nuôi; Sản xuất thực phẩm, nước giải khát; Chế biến và sấy khô nông sản;

- Nhóm các dự án về hóa chất, dược phẩm, mỹ phẩm, đồ gia dụng: Hóa dược, nhựa công nghiệp; Phụ gia bê tông, hóa chất môi trường; Sản xuất, pha chế hóa chất, dược phẩm, mỹ phẩm, nhựa, chất dẻo; Sản xuất vật liệu phủ; Sản xuất đồ gia dụng;

- Nhóm các dự án khác: Các ngành sản xuất vật liệu mới công nghệ Nano; Công nghiệp cơ khí, chế tạo máy công nghiệp, máy nông nghiệp; Vận chuyển và các ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất; Công nghiệp dệt (không nhuộm), may mặc; Sản xuất nhãn mác in trên mọi chất liệu; Sản xuất hộp nhạc.

6. KHU CÔNG NGHIỆP KỸ THUẬT CAO AN PHÁT

Địa điểm

Km 47, quốc lộ 5, phường Việt Hòa và Tứ Minh, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Ngành nghề thu hút đầu tư theo quy hoạch

- Cơ khí: Gia công các phụ kiện kim loại, đúc khuôn,...

- Điện tử - công nghệ thông tin; LCD, TV LCD, làm đĩa CDR,...

- Chế biến thực phẩm;

- Đồ gia dụng: Đồ gỗ nội thất, làm ghế, dụng cụ làm vườn,...

- Công nghiệp nhẹ khác: Ép nhựa, in, đồ điện, điện tử gia dụng.

7. KHU CÔNG NGHIỆP LAI VU

Địa điểm

xã Lai Vu, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương

Ngành nghề thu hút đầu tư theo quy hoạch

- Các nhà máy, xí nghiệp chuyên ngành phục vụ cho ngành đóng tàu;

- Các nhà máy, xí nghiệp thuộc loại hình công nghiệp lắp ráp điện tử, tin học, cơ khí chế tạo, công nghệ kỹ thuật cao, công nghiệp dệt - may và cụm tổ máy nhiệt điện phục vụ dây chuyền dệt;

- Các ngành công nghiệp nhẹ khác, kho ngoại quan,...

8. KHU CÔNG NGHIỆP LAI CÁCH

Địa điểm

Km 49, quốc lộ 5, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

Ngành nghề thu hút đầu tư theo quy hoạch

- Công nghiệp điện, điện tử, điện lạnh: Lắp ráp máy vi tính, vô tuyến và các thiết bị điện tử, tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, dây cáp điện;

- Công nghiệp cơ khí, chế tạo máy công nghiệp, máy nông nghiệp: Công nghiệp cơ khí chính xác, chế tạo sửa chữa máy, sản xuất thiết bị phụ tùng, dụng cụ lắp ráp; Sản xuất kết cấu thép, các sản phẩm kim loại khác;

- Công nghiệp kỹ thuật cao: Công nghệ sinh học, vật liệu mới; Công nghiệp tự động hóa;

- Một số ngành công nghiệp nhẹ khác: Công nghiệp sản xuất đồ gỗ, nhựa, vật liệu xây dựng, trang trí nội thất; Công nghiệp bao bì, chế bản, thiết kế mẫu mã, in ấn; Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, bánh kẹo, bia rượu,...; Công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi; Dụng cụ thể thao, văn phòng phẩm, đồ chơi trẻ em.

9. KHU CÔNG NGHIỆP CẨM ĐIỀN – LƯƠNG ĐIỀN

Địa điểm

Xã Lương Điền và Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

Ngành nghề thu hút đầu tư theo quy hoạch

- Công nghiệp cơ điện, điện tử, công nghệ cao, công nghệ sạch.

- Kho tàng, kho vận; Kỹ thuật cơ khí chính xác; Công nghiệp điện, điện lạnh; Công nghiệp dụng cụ y tế và trang thiết bị y tế; Công nghiệp dược phẩm và sản phẩm chăm sóc sắc đẹp; Công nghiệp thưc phẩm và thức uống; Công nghiệp bao bì; Công nghiệp hỗ trợ; Tự động hóa; Vật liệu chuyên dụng và xây dựng; Công viên phần mềm;

- Công nghiệp may mặc quần áo cao cấp, giày dép, dệt.

10. KHU CÔNG NGHIỆP CỘNG HÒA

Địa điểm

Phường Cộng Hòa và xã Văn Đức, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Ngành nghề thu hút đầu tư theo quy hoạch

- Các ngành có kỹ thuật và công nghệ cao (công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa, công nghệ vật liệu mới); Công nghiệp điện tử, tin học, viễn thông, thiết bị điện; Công nghiệp sản xuất vật liệu với công nghệ Nano;

- Công nghiệp lắp ráp ô tô, xe máy; Công nghiệp cơ khí, chế tạo máy nông nghiệp, công nghiệp;

- Công nghiệp gốm, sứ mỹ nghệ; Sản xuất sứ thủy tinh cao cấp, cao su, nhựa, chất dẻo;

- Công nghiệp may; Sản xuất bao bì, chế biến gỗ; Vật liệu xây dựng;

- Công nghiệp chế biến thực phẩm, nước giải khát, chế biến nông sản;

- Công nghiệp về hóa chất (dược phẩm, mỹ phẩm).

11. KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ THÁI

Địa điểm

- Thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương (Phân khu phía Tây)

- Xã Kim Lương, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương (Phân khu phía Đông)

Ngành nghề thu hút đầu tư theo quy hoạch

- Phân khu phía Tây: Xây dựng nhà xưởng, kho bãi nhằm phát triển ngành công nghệ dệt may (Không có giặt nhuộm); Công nghiệp sản xuất hàng hóa phục vụ cho ngành dệt may; Công nghiệp lắp ráp điện tử; Dịch vụ kho bãi; Các loại hình công nghiệp nhẹ đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường;

- Phân khu phía Đông: Công nghiệp dệt may (không nhuộm), Các nhà máy sản xuất hàng hóa phục vụ cho ngành dệt may; Công nghệ lắp ráp điện tử, đồ gỗ, kho bãi và dịch vụ, Các loại hình công nghiệp nhẹ công nghệ tiên tiến, đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường.

 

 

Tại các Khu công nghiệp sản xuất chủ yếu tập trung ở các ngành nghề công nghiệp nhẹ như: dệt may; lắp ráp điện tử; chế biến thực phẩm, nông sản; lắp ráp ô tô, xe máy; chế biến nhựa, giấy, bao bì; giày dép; sản xuất gốm sứ; điện tử tin học; đồ gia dụng…

 Trên địa bàn tỉnh đã có 66 làng với 19 nhóm ngành nghề sản xuất chính

- Nhóm làng nghề mộc (mộc dân dụng, mộc đình chùa, đồ gỗ mỹ nghệ, điêu khắc) có 14 làng (chiếm tỷ lệ 21%), đây là nhóm nghề phát triển mạnh ở Hải Dương (nổi bật là làng nghề chạm khắc gỗ Đông Giao, mộc Cúc Bồ).

- Nhóm làng nghề chế biến nông sản thực phẩm có 10 làng (chiếm tỷ lệ 15%).

- Nhóm làng nghề thêu ren có 08 làng nghề (chiếm tỷ lệ 12%) tập trung chủ yếu ở huyện Tứ Kỳ.

- Nhóm làng nghề sản xuất hương tập trung trên địa bàn huyện Nam Sách; Nhóm làng nghề sản xuất giầy da tập trung trên địa bàn huyện Gia Lộc có 04 làng nghề (chiếm tỷ lệ 6%).

- Các nhóm làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng không nung, dệt chiếu cói, mây tre đan (mỗi loại hình có 03 làng nghề).

- Các nhóm làng nghề sản xuất gốm; sản xuất chổi chít; cơ khí; nấu rượu; sản xuất thừng, rợ; kim hoàn đều (mỗi loại hình có 02 làng nghề).

- Các nhóm làng nghề ươm tơ; trạm khắc đá; sản xuất lược bí; rèn; thêu tranh, móc sợi (mỗi loại hình có 01 làng nghề).

 

2.1.3Thực trạng các cơ sở cấp nước, chất lượng nước sạch và quản lý chất lượng nước sạch

2.1.3.1 Thực trạng các đơn vị cấp nước trên địa bàn tỉnh

-Trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 62 cơ sở trực tiếp sản xuất cấp nước tập trung cho người dân trên địa bàn tỉnh, chủ yếu khai thác nước bề mặt và nước ngầm. Trong đó có 59 cơ sở sử dụngnguồn nước nguyên liệu đầu vào là nước bề mặt chiếm 95%, 03 cơ sở còn lại dùng nguồn nước ngầm chiếm 5%.

- Công nghệ xử lý:

+ Đối với nước bề mặt

 

 

           
   
     
 

CTT & Trạm Bơm I

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+ Đối với nước ngầm

 

 

2.1.3.2 Thực trạng chất lượng nước sạchtheo kết quả hồi cứu:

Kết quả xét nghiệm của các đơn vị từ năm 2017-2019

Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn:

Theo Báo cáo của Trung tâm Nước sinh hoạt và VSMT nông thôn tại công văn Số: 183/TTN-KHKT ngày 12 tháng 12 năm 2019 về việc cung cấp số liệu xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch.

Tổng số mẫu

QCVN 02:2009

Đạt

Không đạt

Chỉ tiêu không đạt

2146

2146

2071

75

Màu sắc; Mùi, vị; Clo dư; Độ đục; Chỉ số Pecmanganat; Coliform tổng số; Hàm lượng Amoni; Hàm lượng Sắt tổng số; E.coli

Trung tâm Nước sinh hoạt và VSMT nông thôn đã kiểm tra chất lượng nước thành phẩm các năm 2017-2019,xét nghiệm được 2146 mẫu nước theo QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế về chất lượng nước sinh hoạt với 14 chỉ tiêu,tổng số mẫu đạt là 2071 mẫu chiếm 96,6% còn 75 mẫu không đạt chiếm 3,4%.

Công ty Cổ phần kinh doanh nước sạch Hải Dương:

Theo báo cáo tổng hợp tại công văn số 1930/KDNS ngày 28/11/2019 của Công ty Cổ phần kinh doanh nước sạch đã lấy mẫu nước tại các cơ sở sản xuất kinh doanh để tiến hành xét nghiệm, đánh giá chất lượng nước sạch sau xử lý.

 

Tổng số mẫu

QCVN 01:2009

QCVN 01-1:2018

Đạt

Không đạt

Chỉ tiêu không đạt

8923

7998

925

8923

0

 

Từ năm 2017-2019, xét nghiệm được 8.923 mẫu nước với 20 chỉ tiêu theo QCVN 01:2009 và QCVN 01-1:2018/BYT. Các chỉ tiêu là: Màu sắc; Mùi, vị; pH; T0; Độ dẫn điện; Tổng chất rắn hòa tan; Clo dư tự do(**); Độ đục; Chỉ số Pecmanganat; Chloride (Cl-)(***); Độ cứng, tính theo CaCO3; Mangan (Mn); Sắt (Ferrum) (Fe); Nitrat (NO3- tính theo N); Nitrit (NO2- tính theo N); Sunphat; Amoni(NH3 và NH4tính theo N); Độ kiềm ; Natri (Na); Coliform; E.Colihoặc Conform chịu nhiệt.Tổng số mẫu đạt là 100%.

- Các chỉ tiêu Cấp B: thực hiện đúng quy định 6 tháng/lần, thuê các đơn vị Viện Công nghệ môi trường; Viện khoa học và kỹ thuật môi trường; Trung tâm môi trường và khoáng sản thực hiện. Kết quả đạt 100%.

- Các chỉ tiêu Cấp C: thực hiện đúng theo quy định 2 năm/lần, thuê các đơn vị: Viện Công nghệ môi trường; Viện khoa học và kỹ thuật môi trường; Bệnh viện Đại học Y Hải Dương thực hiện. Kết quả đạt 100%.

- Các chỉ tiêu quan trắc nước nguồn, thực hiện theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT (đối với nước mặt) và QCVN 09-MT:2015/BTNMT (đối với nước ngầm) thực hiện đúng theo quy định: 6 tháng/lần.

Công ty cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn:

Theo báo cáo tổng hợp tại công văn số 03/BC/CTCP  ngày 08/11/2019 củaCông ty cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn.Kết quả xét nghiệm nước sạch từ ngày 01/01/2017-01/11/2019: Lấy mẫu nước sau xử lý tại các nhà máy để xét nghiệm.

Tổng số mẫu

QCVN 01:2009 và QCVN 02:2009,

Đạt

Không đạt

Chỉ tiêu không đạt

672

672

672

0

0

 

Tổng số mẫu làm xét nghiệm: 672 mẫu theo QCVN 01:2009 và QCVN 02:2009, số mẫu đạt 100%. Các chỉ tiêu xét nghiệm gồm 17 chỉ tiêu:Mùi,vị; Độ đục; pH; Độ cứng tính theo CaCO3­­­­­­­; Chỉ số Pecmanganat; Hàm lượng sắt tổng số; Hàm lượng Clorua; Hàm lượng Clo dư; Hàm lượng Nitrit; Hàm lượng Nitrat; Hàm lượng Mangan; Hàm lượng Đồng; Hàm lượng Kẽm; Hàm lượng Sunphat; Hàm lượng Amoni; Tổng số Coliform; Tổng số E.coli.

Ngành Y tế: Từ năm 2017-2019, ngành Y tế tiến hành kiểm tra, giám sát được 432 mẫu nước theo QCVN 01:2009 và QCVN 02:2009

CÁC MẪU THEO QUY CHUẨN QCVN 01:2009

Tổng số mẫu

Đạt

Không đạt

Chỉ tiêu không đạt

340

325

15

Clo dư, độ đục, Permanganat,Natri (Na)

 

Tổng số mẫu làm xét nghiệm theo QCVN 01:2009 là 340 mẫu trong đó có 325 mẫu có các chỉ tiêu xét nghiệm đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 95,5% còn 15 mẫu không đạt theo quy chuẩn chiểm tỉ lệ 4,5%.

CÁC MẪU THEO QUY CHUẨN QCVN 02:2009

Tổng số mẫu

Đạt

Không đạt

Chỉ tiêu không đạt

92

84

8

Clo dư, Coliform, pH, Permanganat

 

Tổng số mẫu làm xét nghiệm theo QCVN 02:2009 là 92 mẫu trong đó có 84 mẫu có các chỉ tiêu xét nghiệm đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 91,3% còn 8 mẫu không đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 8,7%.

CÁC MẪU THEO QUY CHUẨN QCVN 01-1:2018 (Chất lượng nước sạch theo kết quả điều tra cắt ngang)

 

Tổng số mẫu

Đạt

Không đạt

Chỉ tiêu không đạt

20

14

07

Trực khuẩn mủ xanh, chỉ số pecmanganat, Mangan, Nitrat, Nhôm

 

Tổng số mẫu làm xét nghiệm nhóm B với 91 chỉ tiêu theo QCVN 01-1:2018là 20 mẫu trong đó có 14 mẫu có các chỉ tiêu xét nghiệm đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 65% còn 07 mẫu không đạt theo quy chuẩn chiếm tỉ lệ 35%.

2.1.3.3  Đề xuất các thông số

Đối với các thông số bắt buộc (Nhóm A), tần suất phân tích 1 lần/1 tháng bao gồm 8 thông số: Coliform; E.Coli hoặc Coliform chịu nhiệt; Độ đục; pH; Clo dư tự do (Áp dụng đối với khử trùng nước bằng Clo); Màu sắc; Mùi, vị; Arsenic (áp dụng cho nước ngầm).

Đối với các thông số lựa chọn theo đặc điểm nguồn nước của từng địa phương (Nhóm B), tần suất phân tích 1 lần/6 tháng bao gồm 33 thông số:

TT

Tên thông số

Đơn vị tính

Ngưỡng giới hạn cho phép

Các thông số nhóm A

 

Thông số vi sinh vật

 

 

1.

Coliform

CFU/100 mL

<3

2.

E.Coli hoặc Coliform chịu nhiệt

CFU/100 mL

<1

 

Thông số cm quan và vô cơ

3.

Arsenic (As)(*)

mg/L

0.01

4.

Clo dư tự do(**)

mg/L

Trong khoảng 0,2 - 1,0

5.

Độ đục

NTU

2

6.

Màu sắc

TCU

15

7.

Mùi, vị

-

Không có mùi, vị lạ

8.

pH

-

Trong khoảng 6,0-8,5

Các thông số nhóm B

 

Thông số vi sinh vật

9.

Tụ cầu vàng

(Staphylococcus aureus)

CFU/ 100mL

< 1

10.

Trực khuẩn mủ xanh

(Ps. Aeruginosa)

CFU/ 100mL

< 1

 

Thông số vô cơ

11.

Amoni (NH3 và NH4tính theo N)

mg/L

0,3

12

Cadmi (Cd)

mg/L

0,003

13

Chì (Plumbum) (Pb)

mg/L

0,01

14

Chỉ số pecmanganat

mg/L

2

15

Chloride (Cl-)(***)

mg/L

250 (hoặc 300)

16

Đồng (Cuprum) (Cu)

mg/L

1

17

Độ cứng, tính theo CaCO3

mg/L

300

18

Fluor (F)

mg/L

1,5

19

Kẽm (zn)

mg/L

2

20

Mangan (Mn)

mg/L

0,1

21

Natri (Na)

mg/L

200

22

Nhôm (Aluminium) (Al)

mg/L

0.2

23

Nickel (Ni)

mg/L

0,07

24

Nitrat (NO3- tính theo N)

mg/L

2

25

Nitrit (NO2- tính theo N)

mg/L

0,05

26

Sắt (Ferrum) (Fe)

mg/L

0,3

27

Sunphat

mg/L

250

28

Sunfua

mg/L

0,05

29

Thủy ngân (Hydrargyrum) (Hg)

mg/L

0,001

30

Tổng chất rắn hòa tan (TDS)

mg/L

1000

31

Xyanua (CN)

mg/L

0,05

 

Thông số hữu cơ

 

 

 

Nhóm hydrocacbua thơm

 

 

32

Phenol và dẫn xuất của Phenol

µg/L

1

33

Styren

µg/L

20

34

Xylen

µg/L

500

 

Thông số hóa chất bảo vệ thực vật

 

 

35

Trifuralin

µg/L

20

36

Atrazine và các dẫn xuất chloro-s- triazine

µg/L

100

37

Chlorpyrifos

µg/L

30

 

Thông số hóa chất khử trùng và sản phẩm phụ

 

 

38

Bromoform

µg/L

100

39

Chloroform

µg/L

300

40

Bromodichloromethane

µg/L

60

41

Dibromochloromethane

µg/L

100

 

Tổng

 

41

Căn cứ để đề xuất các thông số xây dựng dự thảo, dựa vào kết quả phân tích chất lượng nước sạch của các đơn vị từ năm 2017 đến năm 2019 và 20 mẫu nước đại diện cho 15 nguồn nước với 91 chỉ tiêu theo QCVN 01-1: 2018/BYT.

2.2. Thuyết minh lựa chọn các thông số chất lượng nước sạch để xây dựng dự thảo quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch

2.2.1. Đối với các thông số nhóm A

Các thông số nhóm A là yêu cầu bắt buộc của Bộ Y tế nhằm đảm bảo chất lượng nước sạch, theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt - QCVN 01-1:2018/BYT. Tần suất phân tích 1 lần/1 tháng bao gồm 8 chỉ tiêu: Coliform; E.Coli hoặc Coliform chịu nhiệt; Độ đục; pH; Clo dư tự do (Áp dụng đối với khử trùng nước bằng Clo); Màu sắc; Mùi, vị; Arsenic (áp dụng cho nước ngầm)

2.2.2. Đối với các thông số nhóm B

Đối với 33 thông số nhóm B là các thông số đã phát hiện vượt ngưỡng giới hạn cho phép hoặc thường xuyên biến động theo mùa trong năm, do nguồn nước khai thác của Hải Dương trên 95% là nguồn nước mặt và ảnh hưởng đến cấp nước an toàn của các nhà máy nước. Các thông số lựa chọn bao gồm:

 2.2.2.1.Tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus)

Tụ cầu vàng tương đối phổ biến trong môi trường nhưng được tìm thấy chủ yếu trên da và niêm mạc của động vật. Cứ khoảng 3 người trong số 10 người khỏe mạnh có thể có vi khuẩn này trên người và hầu hết mọi người đều không biết họ đang có mang vi khuẩn trong người. Tụ cầu vàng có thể được phát hiện khi con người tham gia vào các hoạt động liên quan đến môi trường nước như bể bơi, các hoạt động vui chơi, giải trí dưới nước,...cũng được phát hiện trong nguồn nước uống. Tụ cầu vàng có thể gây ra một số bệnh như mụn nhọt, nhiễm trùng da, vết thương sau phẫu thuật, nhiễm trùng đường ruột, nhiễm trùng máu, viêm nội tâm mạc, viêm tủy xương, viêm phổi, các bệnh đường tiêu hóa (viêm ruột hoặc ngộ độc thực phẩm). Mặc dù WHO không đưa ra khuyến cáo về giới hạn hàm lượng tối đa đối với Staphylococcus aureus trong nước uống, nhưng để đảm bảo hạn chế tối đa những nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe từ yếu tố vi sinh vật, đề xuất đưa chỉ tiêu Tụ cầu vào để giám sát định kỳ.

2.2.2.2. Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa)

Trực khuẩn mủ xanh là một sinh vật khá phổ biến trong môi trường và có thể được tìm thấy trong phân, đất, nước và nước thải. Trực khuẩn mủ xanhthường xuất hiện trong môi trường ẩm ướt như bồn rửa, phòng tắm, hệ thống nước nóng, vòi sen và hồ bơi. Trực khuẩn mủ xanhcó thể gây ra các bệnh nhiễm trùng nhưng thường ít nghiêm trọng ở người khỏe mạnh. Nó chủ yếu tập trung ở các vết thương hở như bỏng và vết thương phẫu thuật,.... Từ những vị trí này, Pseudomonas aeruginosa có thể xâm nhập vào cơ thể, gây ra các tổn thương, nhiễm trùng máu hoặc viêm màng não. Sự hiện diện của số lượng lớn P.aeruginosa trong nước uống, đặc biệt là nước đóng chai có thể có thể ảnh hưởng đến mùi, vị và độ đục của nước.

Hai loại vi sinh vật: Staphylococcus aureus và Pseudomonas aeruginosa khá phổ biến trong môi trường nước và là 2 thông số vi sinh vật trong 91 thông số thuộc nhóm B trong thông tư 41/2018/TT-BYT. Qua kết quả xét nghiệm cho thấy có một số mẫu nước xuất hiện trực khuẩn mủ xanh, đề xuất đưa chỉ tiêu Tụ cầu vào để giám sát định kỳ.

2.2.2.3. Amoni (NH4+)

Bản thân Amoni không quá độc với cơ thể, nhưng nếu tồn tại trong nước với hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nó có thể chuyển hóa thành các chất gây ung thư và các bệnh nguy hiểm khác. Các nghiên cứu cho thấy, 1g amoni khi chuyển hóa hết sẽ tạo thành 2,7g nitrit và 3,65 g nitrat. Trong khi hàm lượng cho phép của nitrit là 0,1 mg/lít và nitrat là 10-50 mg/lít.

Amoni là một trong những yếu tố gây cản trở trong công nghệ xử lý nước: làm giảm tác dụng của Clo, giảm hiệu quả khử trùng nước do phản ứng với Clo tạo thành monocloamin là chất sát trùng thứ cấp hiệu quả kém Clo hơn 100 lần. Amoni cùng với các chất vi lượng trong nước (hợp chất hữu cơ, phốt pho, sắt, mangan…) là “thức ăn” để vi khuẩn phát triển, gây ảnh hưởng tới chất lượng nước sau xử lý. Nước có thể bị đục, đóng cặn trong hệ thống dẫn, chứa nước. Nước bị xuống cấp, làm giảm các yếu tố cảm quan ( NH4+ là nguồn dinh dưỡng để rêu tảo phát triển, vi sinh vật phát triển trong đường ống gây ăn mòn, rò rỉ và mất mỹ quan).

Một hiện tượng nữa cần được quan tâm là khi nồng độ amoni trong nước cao, rất dễ tạo thành các nitrat (NO2-), nitrit (NO3-). Trong cơ thể động vật, nitrit và nitrat có thể biến thành N-nitroso- là chất tiền ung thư. Nước nhiễm amoni còn nghiêm trọng hơn nhiễm asen rất nhiều vì amoni dễ dàng chuyển hoá thành chất độc hại, lại khó xử lý.

Khi ăn uống nước có chứa nitrit, cơ thể sẽ hấp thu nitrit vào máu và chất này sẽ tranh oxy của hồng cầu làm Hêmoglobin mất khả năng lấy oxy, dẫn đến tình trạng thiếu máu, xanh da. Vì vậy, nitrit đặc biệt nguy hiểm cho trẻ mới sinh dưới sáu tháng, nó có thể làm chậm sự phát triển, gây bệnh ở đường hô hấp, trẻ bị xanh xao, ốm yếu, thiếu máu, khó thở do thiếu oxi trong máu. Đối với người lớn, nitrit kết hợp với các axit amin trong thực phẩm làm thành một họ chất nitrosamin. Nitrosamin có thể gây tổn thương di truyền tế bào - nguyên nhân gây bệnh ung thư. Những thí nghiệm cho nitrit vào thức ăn, nước uống của chuột, thỏ… với hàm lượng vượt ngưỡng cho phép thì sau một thời gian thấy những khối u sinh ra trong gan, phổi, vòm họng của chúng.

Các hợp chất nito trong nước có thể gây nên một số bệnh nguy hiểm cho người sử dụng nước. Nitrat tạo ra chứng thiếu vitamin và có thể kết hợp với các amin để tạo nên những nitrosamin là nguyên nhân gây ung thư ở người cao tuổi. Trẻ sơ sinh đặc biệt nhạy cảm với nitrat lọt vào sữa mẹ, hoặc qua nước dùng để pha sữa. Sau khi lọt vào cơ thể, nitrat được chuyển hoá nhanh thành nitrit nhờ vi khuẩn đường ruột. Iron nitrit còn nguy hiểm hơn nitrat đối với sức khoẻ con người. Khi tác dung với các amin hat alkyl cacbonat trong cơ thể người chúng có thể thạo thành các hợp chất chứa nito gây ung thư.

Theo tổ chức Y tế thế giới cũng như các tiêu chuẩn của Bộ Y tế đã đề ra mức giới hạn 3 và 50mg/l đối với nitrit và nitrat tương ứng nhằm ngăn ngừa bệnh mất sắc tố máu (methaemoglobinaemia), đặc biệt đối với trẻ sơ sinh dưới 3 tháng tuổi.Qua kết quả xét nghiệm trong những năm gần đây có một số mẫu nước thấy hàm lượng Amonivượt giới hạn cho phép vậy, đề xuất đưa chỉ tiêu này vào để giám sát định kỳ.

2.2.2.4.Cadmi (Cd)

Cadmi là một kim loại nặng, có ký hiệu hóa học là Cd. Trong số các hoạt động sản xuất và sản phẩm trong đời sống hàng ngày, nguồn phát tán Cadmi nhiều nhất chính là phân bón phosphate. Cadmi có thể xâm nhập vào đất và nước, thậm chí tồn tại trong thực phẩm. Đối với môi trường nước, độ hòa tan của cadmi phụ thuộc vào độ axit của nước. Độ axit của nước càng cao thì cadmi càng dễ tan hơn.

Sản xuất cadmi thương mại bắt đầu vào đầu thế kỷ 20. Ban đầu cadmi được dùng chủ yếu trong mạ điện, nhưng đến  những năm 1960 cadmi được sử dụng trong sản xuất pin niken-cadmi. Ngoài ra, cadmi còn được sử dụng trong những loại nước sơn trong kỹ nghệ làm đồ sứ, chén dĩa,… Cadmi dùng trong sản xuất nhựa polyvinyl clorua với mục đích là chất làm ổn định nên đồ chơi trẻ em và các lon hộp làm bằng nhựa polyvinyl clorua thường có cadmi. Đa số lượng cadmi có trong không khí là do kết quả hoạt động của con người đặc biệt nấu chảy quặng kim loại, đốt nhiên liệu hóa thạch và rác thải đô thị. Các hoạt động khai thác quặng mỏ, luyện kim thải ra khói bẩn chứa nhiều cadmi. Lượng cadmi trong không khí ở các vùng sản xuất công nghiệp có thể đạt ở mức cao và dẫn đến tình trạng công nhân bị phơi nhiễm cadmi ngày càng phổ biến. Từ không khí cadmi di chuyển vào trong đất, nước gây ô nhiễm môi sinh. Các loại phân bón hóa học có chứa phosphate là nguồn ô nhiễm cadmi chính trong nông nghiệp. Việc sử dụng bùn cống thải để bón cho đất cũng là một nguyên nhân dẫn tới tích tụ cadmi trong đất.

Cadmi có trong đất và nước tích tụ vào trong cây trồng và sinh vật thủy sinh, đi vào chuỗi thực phẩm. Thực phẩm được xem là nguồn gây nhiễm cadmi chính đối với người không hút thuốc. Cadmi thường được tìm thấy trong thận và gan của các động vật có vú với chế độ ăn giàu cadmi; một số loài hàu, sò, hến, động vật giáp xác; các loại rau xanh, đậu phộng, đậu nành, hạt hướng dương, khoai tây và các loại ngũ cốc, tinh bột. Một số cây trồng như lúa có thể chứa hàm lượng cadmi cao nếu được trồng trên đất bị nhiễm cadmi nặng.

Nhiễm cadmi từ nước uống thường không đáng kể so với các nguồn khác từ chế độ ăn uống. Tuy nhiên, các tạp chất trong ống dẫn mạ kẽm, chất hàn trong các phụ kiện, các bình nước nóng, nước lạnh và vòi nước đôi khi gây ra việc tăng hàm lượng cadmi trong nước uống.

          Một số khảo sát cho thấy 98% lượng cadimi ăn phải có nguồn gốc từ thực phẩm trên cạn, 1% là thực phẩm thủy sản, 1% từ nước uống.

Cadmi tích tụ chủ yếu ở thận trong thời gian tương đối dài từ 10-35 năm. Ăn uống thực phẩm chứa lượng cadmi cao sẽ có biểu hiện rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy. Tình trạng nhiễm độc lâu ngày sẽ làm tổn thương chức năng hoạt động của thận, làm tăng sự bài tiết của các protein có trọng lượng phân tử thấp trong nước tiểu, tạo sỏi thận.

Nhiễm độc cadmi còn gây ra rối loạn chuyển hóa canxi, kéo theo các bệnh lý về xương như làm yếu xương, biến dạng xương, hủy mô xương, gây ra chứng loãng xương và những cơn đau nhức xương.

Ngoài ra, cadmi còn gây tổn thương đường hô hấp với các triệu chứng: Viêm mũi, giảm khứu giác, mất khứu giác. Hít phải bụi chứa oxit cadmi với liều lượng cao gây viêm phổi cấp tính, có thể dẫn tới chết người. Phơi nhiễm nghề nghiệp lâu dài với hàm lượng cao cadmi có triệu chứng viêm phế quản, viêm phổi mạn tính (ho, khó thở, đau ngực, sốt); góp phần vào sự phát triển của bệnh ung thư phổi. Một vài nghiên cứu cho thấy cadmi có thể gây ra các bệnh ung thư thận và tuyến tiền liệt. Cơ quan nghiên cứu quốc tế về ung thư (The International Agency for Research on Cancer - IARC) phân loại cadmi và các hợp chất cadmi là chất gây ung thư nhóm 1.

2.2.2.5. Chì (Pb)

 Lượng chì hòa tan từ các hệ thống đường ống dẫn nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm pH, nhiệt độ, độ cứng của nước và thời gian trong đường ống. Nước có độ cứng thấp và có tính axit là dễ hòa tan chì nhất. Lượng clo tự do dư trong nước uống có xu hướng hình thành các trầm tích có chứa chì hòa tan hơn, trong khi chloramine dư có thể hình thành cặn hoà tan trong ống dẫn nhiềuhơn.

Thực tế chứng minh nhiều doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Hà Nội và Hưng Yên đã xả thải trộm, không qua xử lý ra sông Bắc Hưng Hải. Ngoài nước thải công nghiệp tại đây còn phải gánh chịu một lượng lớn rác thải sinh hoạt khiến cho tình trạng ô nhiễm càng thêm nặng nề. Điều đáng nói những chứng cứ như thế này đã nhiều lần được cung cấp cho các cơ quan chức năng nhưng vẫn chưa được giải quyết.

Tần suất xét nghiệm chì tại Hải Dương  từ trước tới nay còn ít.

Theo các chuyên gia Y tế, tình trạng nhiễm độc chì tại Việt Nam hiện nay đang ở mức báo động đỏ. Tuy nhiên, do đặc tính tích tụ lâu ngày, không có biểu hiện cụ thể và âm thầm gây bệnh nên người dân thường chủ quan, hoặc trì hoãn sự chữa trị và nguồn gốc gây nhiễm độc chì phổ biến vẫn là ô nhiễm do các làng nghề và các nhà máy gây ra.

Phơi nhiễm với chì liên quan đến một loạt các ảnh hưởng đến sức khỏe như ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thần kinh, có thể gây tử vong (chủ yếu là do các bệnh tim mạch), suy thận, tăng huyết áp, khả năng sinh sản suy giảm và kết quả bất lợi khi mang thai. Khiếm khuyết trong sự phát triển thần kinh ở trẻ em thường xảy ra ở nồng độ chì máu thấp hơn so với các ảnh hưởng khác, các bằng chứng về ảnh hưởng của chì đến sự phát triển thần kinh là thuyết phục hơn đối với các vấn đề sức khỏe khác. Đối với người trưởng thành, các tác dụng phụ liên quan với nồng độ chì trong máu thấp nhất có bằng chứng lớn thuyết phục nhất là tăng huyết áp tâm thu liên quan đến chì. JECFA đã tái khẳng định rằng do chì ảnh hưởng đến sự phát triển thần kinh và bào thai nên trẻ sơ sinh và trẻ em là những phân nhóm nhạy cảm nhất đối với chì. Cần nhận thức rằng chì có tác hại vượt trội so với các hóa chất nguy hiểm khác, trong đó phần lớn chì trong nước uống phát sinh từ hệ thống ống nước trong các tòa nhà, và các biện pháp khắc phục chủ yếu là loại bỏ hệ thống ống nước và phụ kiện có chứa chì nhưng biện pháp này đòi hỏi nhiều thời gian và tiền bạc. Do đó, WHO nhấn mạnh rằng cần thực hiện tất cả các biện pháp thiết thực khác để giảm tổng số tiếp xúc với chì (bao gồm kiểm soát ăn mòn) cần được thực hiện. Hàm lượng chì tối đa theo hướng dẫn của WHO và nhiều nước là 0,01mg/L, của Thái Lan là 0,05 mg/L.

2.2.2.6.Chỉ số pecmanganat

Để đánh giá được mức độ ô nhiễm của các tạp chất hưu cơ hòa tan trong nước cấp dùng cho sinh hoạt người ta sử dụng chỉ số pemanganat, đây chính là nhu cầu oxy hóa học (COD) trong nước cấp sinh hoạt. Về bản chất chỉ số Pemanganat và COD là một, chúng chỉ khác biệt về cách phân tích. Trường hợp chỉ số pecmanganat trong nước thì được xác định bằng KMNO4 còn COD lại được xác định bằng cách oxi hóa mẫu nước với K2Cr2O7. Đối với chỉ số Pemanganat khi vượt ngưỡng 2 theo Quy chuẩn Quốc gia của Bộ y tế QCQG 01:2009/BYT là dấu hiệu cho thấy nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ ở mức độ nguy hiểm.

Các chất này khi tương tác với Clo sẽ tạo ra chất gây ung thư, khi tương tác với oxy sẽ tạo ra chất độc là Nitrit, chất này khi vào cơ thể người sẽ gây ra hiện tượng thiếu oxy trong máu (methemoglobin), trẻ em mắc chứng bệnh này thường xanh xao và dễ bị đe dọa đến mạng sống, đặc biệt là trẻ dưới 6 tháng tuổi, Nitrit khi kết hợp với các axit amin trong cơ thể còn tạo thành chất nitrosamine gây ung thư, hàm lượng nitrosamin cao khiến cơ thể không kịp đào thải, tích lũy lâu ngày trong gan gây ra hiện tượng nhiễm độc, ung thư gan. Nước sạch có chỉ số Pemanganat cao sẽ nhanh chóng tạo rêu, tảo trong bể chứa, là môi trường thuận lợi cho các vi sinh vật độc hại phát triển trong nước.

WHO không có hướng dẫn GHTĐCP cho chỉ số pecmanganat. Tuy nhiên, tiêu chuẩn của Nhật, Hàn Quốc và Anh thay bằng tổng các bon hữu cơ (TOC), tiêu chuẩn của Nhật: 5 mg/L.

Qua kết quả xét nghiệm trong những năm gần đây có một số mẫu cho thấy hàm lượng pecmanganat vượt giới hạn cho phép vậy đề xuất đưa chỉ tiêu này vào để giám sát định kỳ.

2.2.2.7.Clorua (Chloride (Cl-)(***)):

Clorua thâm nhập vào nước bề mặt và nước ngầm từ cả nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo, như dòng thải từ các hoạt động trồng trọt có sử dụng phân bón vô cơ, nước rò rỉ từ các bãi rác, dòng thải từ bể phốt, thức ăn cho động vật, nước thải công nghiệp, nước biển thâm nhập, v.v. Bên cạnh đó, clorua trong nước có thể tăng mạnh qua các quá trình sử dụng clo để xử lý nước.

          Ảnh hưởng của clorua trong nước đến sức khỏe con người

Ở người, 88% clorua tập trung ở vùng ngoại bào và đóng vai trò quan trong trọng quá trình thấm lọc dịch trong cơ thể, duy trì áp lực thẩm thấu, cân bằng nước và cân bằng axit cho cơ thể. Cân bằng điện giải trong cơ thể người được duy trì qua cân bằng giữa tổng lượng clorua đưa vào cơ thể và lượng clorua thải loại ra khỏi cơ thể qua thận và hệ thống tiêu hóa.

Cơ thể của một người trường thành bình thường chứa khoảng 81,7g clorua. Do lượng clorua cơ thể đào thải hàng ngày (qua nước tiểu, phân và mồ hôi) khoảng 530mg, nên một người trưởng thành nên tiêu thụ khoảng 9mg clorua/kg cân nặng cơ thể (tương đương với > 1g muối ăn (muối mỏ)/ngày). Đối với trẻ em và thanh niên < 18 tuổi, nên tiêu thụ 45 mg clorua/ngày.

Cho đến nay chưa thấy có ảnh hưởng đáng kể nào đến sức khỏe con người do clorua gây ra. Một người khỏe mạnh có thể hấp thụ lượng lớn clorua nếu người đó uống đủ nước. Tuy nhiên, muối NaCl có khả năng làm tăng huyết áp nên đây là mối quan ngại đối với những người mắc bệnh tim hoặc bệnh thận.

          Một số ảnh hưởng khác của clorua trong nước

Clorua làm tăng độ dẫn điện trong nước và do đó tăng khả năng ăn mòn của nước đối với các thiết bị kim loại. Trong đường ống dẫn nước bằng kim loại, clorua phản ứng với ion kim loại tạo thành các muối hòa tan và tăng hàm lượng ion kim loại trong nước ăn uống. Đối với ống nước bằng vật liệu có chứa chì, thường được bọc lớp oxit bảo vệ, nhưng clorua làm tăng khả năng ăn mòn đường ống. Clorua trong nước cũng có thể làm tăng tỷ lệ gây thủng các ống làm bằng kim loại.

Nguồn nước có hàm lượng clorua cao thường do hiện tượng thẩm thấu từ nước biển hoặc do ô nhiễm từ các loại nước thải như mạ kẽm, khai thác dầu, sản xuất giấy, …. Nồng độ clorua cao tạo ra vị mặn cho nước và đồ uống. Ngưỡng vị giác đối với anion clorua phụ thuộc vào cation liên quan và nằm trong phạm vi 200-300 mg/L đối với natri, kali và canxi clorua. Nếu nồng độ vượt quá 250 mg/L có thể cảm nhận bằng vị giác.

Cần thiết phải giám sát TDS và Clorua trong nước: Hàm lượng TDS và Clorua cũng được nhiều nước trên thế giới như: Nhật, Hàn, Mỹ, Canada,… quy định hàm lượng tối đa cho phép trong nước uống.

Qua kết quả xét nghiệm trong những năm gần đây cho thấy có một số mẫu nước hàm lượng Clorua (Chloride (Cl-)(***))vượt giới hạn cho phép vậy, đề xuất đưa chỉ tiêu này vào để giám sát định kỳ

2.2.2.8. Đồng (Cu)

Các loại hóa chất diệt tảo được sử dụng rộng rãi trên ao hồ cũng làm tăng hàm lượng đồng trong nguồn nước.

Đồng hiện diện trong nước do hiện tượng ăn mòn trên đường ống và các dụng cụ thiết bị làm bằng đồng hoặc đồng thau.

Nước thải từ nhà máy luyện kim, xi mạ, thuộc da, sản xuất thuốc trừ sâu, diệt cỏ hay phim ảnh cũng góp phần làm tăng lượng đồng trong nguồn nước.

Đồng ở hàm lượng 1 - 2 mg/l đã làm cho nước có vị khó chịu, và không thể uống được khi nồng độ cao từ 5 - 8 mg/l. Tiêu chuẩn nước uống và nước sạch đều quy định hàm lượng đồng nhỏ hơn 2 mg/l.

Đồng là một thành phần cần thiết cho cơ thể do thức ăn đưa vào hàng ngày từ 0,033 đến 0,05 mg/kg thể trọng. Với liều lượng này, người ta không thấy có tích luỹ Cu trong cơ thể người bình thường.Nếu cơ thể chúng ta khi hàm lượng đồng vượt quá giới hạn cho phép thì sẽ bị ngộ độc cấp tính. Triệu trứng biểu hiện ngay như buồn nôn, nôn nhiều chất nôn có mầu xanh đặc hiệu của đồng, sau khi nôn, nước bọt vẫn tiếp tục ra nhiều và trong một thời gian dài vẫn còn dư vị đồng trong miệng.

2.2.2.9. Độ cứng

Gây khô da, khô tóc nếu dùng nước cứng để tắm gội thường xuyên. Nước cứng tạm thời có thể đi vào cơ thể và muối bicarbonat bị phân hủy tạo thành muối cacbonat kết tủa Ca(HCO3)2 không thấm qua được thành ruột và động mạch. Do đó, chúng tích tụ trong các cơ quan của cơ thể, lâu ngày sẽ tạo thành sỏi hoặc làm tắc những đường động mạch, tĩnh mạch gây nguy hiểm đến sức khỏe. 

- Đối với các đồ dùng trong nhà bếp để đun nấu như nồi hơi hoặc nước bình nóng lạnh, dễ bị bám cặn, nhanh làm hỏng sản phẩm.

- Không những vậy nước cứng còn làm giảm khả năng tạo bọt của xà phòng cũng như làm giảm tác dụng tẩy rửa do tạo muối canxi không tan, nhanh làm mục vải và hại quần áo.

- Các lớp CaCOhình thành do nước cứng có thể tạo thành một lớp cách nhiệt dưới đáy nồi hơi, làm giảm khả năng dẫn và truyền nhiệt và tiêu hao điện năng, gây lãng phí. 

Độ cứng của nước uống rất quan trọng, là chỉ tiêu cảm quan mà khách hàng có thể nhận biết và ảnh hưởng đến một số hoạt động sản xuất. Có một số nghiên cứu dịch tễ học về tác dụng bảo vệ của magiê hoặc độ cứng đối với tỷ lệ tử vong do tim mạch. Các nghiên cứu sâu hơn đang được tiến hành. Hiện tại chưa có đủ dữ liệu đề xuất nồng độ khoáng chất tối thiểu hoặc tối đa, vì lượng hấp thụ đầy đủ sẽ phụ thuộc vào một loạt các yếu tố khác. Do đó, WHO chưa đưa ra giá trị hướng dẫn về hàm lượng độ cứng trong nước.

Độ cứng cũng là 1 chỉ tiêu cảm quan và được hầu hết các nước: Nhật, Hàn, Anh, Đức, Canada,… quy định hàm lượng tối đa cho phép trong nước uống.

Qua kết quả xét nghiệm trong những năm gần đây cho thấy có một số mẫu nước hàm lượng Độ cứngvượt giới hạn cho phép vậy, đề xuất đưa chỉ tiêu này vào để giám sát định kỳ

2.2.2.10. Fluor

 Fluor (F) là nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể sống. Theo tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống của Bộ Y tế (1329/2002/BYT/QĐ), hàm lượng F chấp nhận được là  0,7 mg/l <F <1,5 mg/l. Nếu cơ thể con người hấp thụ quá nhiều hoặc quá ít F từ môi trường, thì sẽ dẫn đến những tác động có hại cho sức khỏe, như gây nên các bệnh về răng và xương (bệnh thừa - thiếu fluor - fluorosis). Ngoài ra, còn có thể bị suy giảm hoạt động của tuyến giáp hoặc gây tổn thương tới não.

Flo được sử dụng rộng rãi trong các chế phẩm nha khoa để chống sâu răng, đặc biệt là ở những khu vực có lượng đường cao. Tác dụng bảo vệ của flo tăng lên ở nồng độ khoảng 2 mg/L; nồng độ tối thiểu của flo trong nước uống cần thiết khoảng 0,5 mg/L. Tuy nhiên, flo cũng có tác dụng phụ đối với men răng và có thể dẫn đến nhiễm fluoride răng nhẹ ở nồng độ 0,9-1,2 mg/L, phụ thuộc vào lượng nước uống và tiếp xúc với flo từ những nguồn khác. Lượng flo tăng cao có thể có tác động nghiêm trọng đối với các mô xương. Giá trị khuyến nghị đối với flo từ các nguồn cung cấp nước là 0,5-1,0 mg/L.

Sâu răng là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng trên toàn thế giới ở giai đoạn đầu thế kỷ XX. Chúng gây ra những cơn đau khủng khiếp, từ việc răng đau buốt cho đến các bộ phận trong khoang miệng bị nhiễm trùng. Sâu răng thường được điều trị bằng cách nhổ bỏ răng bị hư.

Vào những năm 1930 - 1940, sau khi tiến hành một loạt cuộc khảo sát trên khắp Hoa Kỳ, các nhà nghiên cứu đã nhận ra rằng trẻ sống ở khu vực có hàm lượng florua trong nước cao (từ 1ppm trở lên) có tỷ lệ bị sâu răng ít hơn hẳn so với những trẻ sống ở khu vực có nồng độ florua trong nước thấp. Đây là một bước đột phá lớn trong công cuộc chăm sóc sức khỏe răng miệng.

Từ đó, các nhà khoa học đã đi đến kết luận rằng hàm lượng tối ưu của florua trong nước để ngăn ngừa sâu răng là 0,7ppm. Sau khi công bố kết quả nghiên cứu này, các quốc gia trên thế giới đều lần lượt điều chỉnh lại hàm lượng florua trong nguồn nước sinh hoạt. Tỷ lệ sâu răng, sún răng hay kể cả trám răng ở trẻ nhỏ sau đó đã giảm gần 70%. Bên cạnh đó, tỷ lệ sâu răng ở người lớn cũng được chứng minh là giảm từ 20 – 40% sau khi sử dụng nước chứa florua với nồng độ 0,7ppm.

Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, hàm lượng F trong các loại thực phẩm không cao. Một số địa phương có biểu hiện thiếu hụt F trong môi trường nước như Hà Nội, Lạng Sơn và đồng bằng Cửu Long. Trong khi đó, có những vùng hàm lượng F rất cao, điển hình là trong nước dưới đất ở Vạn Ninh, Ninh Hòa, Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa và một số vùng khác của các tỉnh Thái Bình, Bình Định và Ninh Thuận.

 2.2.2.11 Kẽm (Zn)

Kẽm là một nguyên tố vi lượng thiết yếu được tìm thấy trong hầu như tất cả thức ăn và nước uống ở các dạng muối hoặc phức hợp hữu cơ. Các chế độ ăn uống hàng ngày thường là nguồn cung cấp kẽm cho cơ thể. Mặc dù hàm lượng kẽm thường không quá 0.01 mg/L trong nước mặt và 0,05mg/L trong nước ngầm, nồng độ kẽm trong nước máy có thể cao hơn nhiều do sự giải phóng kẽm từ ống dẫn nước. Năm 1982, JECFA (Joint FAO/WHO Expert Committee on Food Additives) đề xuất lượng kẽm hấp thu vào cơ thể hàng ngày tối đa là 1 mg/kg thể trọng. Hiện tại WHO chưa có hướng dẫn ảnh hưởng tới sức khỏe và giá trị giới hạn tối đa đối với kẽm. Tuy nhiên, nếu nước uống có chứa kẽm ở mức trên 3 mg/L gây ảnh hưởng đến chất lượng nước về mặt cảm quan và có thể không được người tiêu dùng chấp nhận. Nước có chứa kẽm ở nồng độ vượt quá 3-5 mg/L có thể có màu trắng đục và xuất hiện một lớp màng nhờn trên mặt nước sôi hoặc có vị lạ không mong muốn (khoảng 4mg/L). Mặc dù nước uống hiếm khi có kẽm ở nồng độ trên 0,1 mg/L, nồng độ trong nước máy có thể cao hơn đáng kể vì kẽm được sử dụng trong vật liệu ống nước mạ kẽm thời trước.

2.2.2.12. Mangan (Mn)

Mangan là một trong những nguyên tố vi lượng cơ bản của sự sống, giữ nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể như: tác động đến sự hô hấp tế bào, sự phát triển xương, chuyển hóa gluxit và hoạt động của não. Mn có hàm lượng cao trong ty lạp thể làm chất xúc tác cùng các enzym, tham gia vào một số quá trình như: tổng hợp axít béo và chlesterol, sản xuất hooc môn giới tính, tác động đến sự chuyển hóa của tuyến giáp. Mn kết hợp với vitamin K tham gia vào quá tình tổng hợp prothrombin gây ảnh hưởng đến quá trình đông máu. Mn tham gia tổng hợp protein, cholesterol và tương tác với acid nucleic. Mn làm giảm glucose huyết nhưng lại tham gia phản ứng tạo ra glucose từ các phân tử khác. Mặc dù không gây ra các tác động trực tiếp đến sức khỏe con người, nhưng nếu tiếp xúc, ăn uống, sử dụng nguồn nước có nhiễm Mangan trong thời gian dài cũng để lại những hậu quả xấu, đặc biệt là đối với hệ thần kinh.

Mangan khi tiếp xúc với oxi sẽ bị oxy hóa tạo thành mangan dioxit (MnO2) làm cho nước có màu nâu đen và có mùi tanh của kim loại, gây mất cảm quan.

Mangan thường gây ra cặn ố bẩn trên các thiết bị, vì vậy, sử dụng nước hằng ngày để lau rửa, giặt giũ sẽ gây ảnh hưởng đến độ bền của đồ dùng. Đặc biệt, giặt quần áo bằng nước nhiễm Mn sẽ hình thành những vết ố bẩn màu nâu, đen trên quần áo do quá trình oxy hóa gây ra.

Mangan trong nước gặp clo sẽ tạo kết tủa cặn bám dioxit mangan và có thể gây tắc đường ống.

Mangan có mặt trong nước ở dạng ion hòa tan (Mn2+). Nếu ở hàm lượng nhỏ dưới 0,1mg/lít thì mangan có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên nếu hàm lượng mangan cao từ 1-5mg/lít sẽ gây ra không ít ảnh hưởng đến một số cơ quan nội tạng của cơ thể.

Mn không có khả năng gây đột biến cũng như hình thành các bệnh nguy hiểm như ung thư, cũng không ảnh hưởng đến sinh sản…nhưng nó có liên quan mật thiết đến hệ thần kinh, gây ra các độc tố hình thành hội chứng manganism với các triệu chứng gần như tương tự bệnh Parkinson. Nếu lượng Mn hấp thu vào cơ thể cao có thể gây độc với phổi, hệ thần kinh, thận và tim mạch. Khi hít phải Mangan với lượng lớn có thể gây hội chứng nhiễm độc ở động vật, gây tổn thương thần kinh.

Mn đặc biệt có hại cho trẻ bởi cơ thể trẻ em dễ dàng hấp thụ được rất nhiều Mg trong khi tiết thải ra ngoài thì rất ít. Điều đó dẫn đến sự tích tụ Mn trong cơ thể trẻ, gây ra các hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, các chuyên gia y tế khuyến cáo phụ nữ đang mang thai và trẻ em tuyệt đối tránh tiếp xúc và sử dụng nguồn nước nhiễm Mn.

Sử dụng nguồn nước bị nhiễm Mangan trong thời gian dài, nhiễm độc mangan từ nước uống làm giảm khả năng ngôn ngữ, giảm trí nhớ, giảm khả năng vận động liên quan đến tay và chuyển động của mắt, nếu nhiễm độc mangan lâu ngày có thể dẫn đến triệu chứng thần kinh không bình thường như dáng đi và ngôn ngữ bất thường. Với khả năng không gây ung thư ở người nhưng Mangan vẫn có tác động xấu tới cơ thể con người chúng ta. Theo QCVN 01: 2009/BYT- quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước ăn uống, hàm lượng mangan trong nước không được vượt quá 0.3mg/l.

Qua kết quả xét nghiệm trong những năm gần đây cho thấy một số mẫu nước hàm lượng Mangan (Mn) vượt giới hạn cho phép vậy, đề xuất đưa chỉ tiêu này vào để giám sát định kỳ.

   2.2.2.13. Natri (Na)

Natri là một chất điện phân cực kỳ quan trọng và một ion thiết yếu trong dung dịch ngoại bào (ECF). Một trong những lợi ích của natri là vai trò quan trọng của nó trong hoạt động enzyme và co cơ. Nó là rất quan trọng đối với sự điều hòa áp suất thẩm thấu và duy trì chất lỏng trong cơ thể con người. Một số lợi ích sức khỏe khác của natri bao gồm cải thiện hiệu suất tim, hệ thần kinh và sự hấp thụ glucose.

Trong khi sự thiếu hụt natri là nguy hiểm nhưng một lượng dư thừa natri cũng có thể gây ra huyết áp cao, sưng các mô thần kinh và dây thần kinh và phù não. Nếu tình hình không được giảm bớt, nó thậm chí có thể dẫn đến hôn mê. Giảm lượng natri cũng làm giảm chất béo tích tụ trong các bộ phận ngoại vi của cơ thể.

Qua kết quả xét nghiệm trong những năm gần đây cho thấy một số mẫu nước hàm lượng Natri (Na) vượt giới hạn cho phép vậy, đề xuất đưa chỉ tiêu này vào để giám sát định kỳ

2.2.2.14. Nhôm (Al)

          Nhôm là thành phần chính trong các loại đá khoáng, đất sét. Nhôm được dùng trong các ngành công nghiệp sản xuất chất bán dẫn, thuốc nhuộm, sơn và đặc biệt là hóa chất keo tụ trong xử lý nước. Nước khai thác từ vùng đất nhiễm phèn thường có độ pH thấp và hàm lượng nhôm cao.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nhôm thâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường miệng (thức ăn và nước uống, v.v), trong đó, tỷ lệ nhôm đi vào cơ thể qua đường nước uống chiếm khoảng < 5%. Cho đến nay, chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy nhôm trong nước uống có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người hay gây ảnh hưởng đến chất lượng nước về mặt cảm quan. Do vậy, WHO, Mỹ, Canada và nhiều nước trên thế giới không đưa ra hướng dẫn hay quy định về giá trị tối đa cho phép của nhôm trong nước uống.  Tuy nhiên, một số nghiên cứu dịch tễ học cho thấy khả năng có sự tương quan giữa lượng nhôm đi vào cơ thể và bệnh Alzheimer. Mặc dù những nghiên cứu này chưa đưa ra được những bằng chứng chính xác (do chưa loại bỏ được các yếu tố nhiễu) nhưng đây có thể là một cơ sở để các nhà quản lý đưa ra quyết định có cần phải đặt ra giới hạn tối đa cho phép cho nhôm trong nước hay không.

Nhôm ảnh hưởng tới sức khỏe như sa sút trí tuệ, suy giảm trí nhớ, bơ phờ mệt mỏi.

Qua kết quả xét nghiệm cho thấy đã có mẫu nước hàm lượng Nhôm (Al)vượt giới hạn cho phép vậy, đề xuất đưa chỉ tiêu này vào để giám sát định kỳ.

2.2.2.15. Niken (Ni)

Niken được sử dụng chủ yếu trong sản xuất thép và hợp kim niken không gỉ. Thực phẩm là nguồn phơi nhiễm niken chính ở những người không hút thuốc và người không phơi nhiễm nghề nghiệp với niken. Nước nói chung là một đóng góp nhỏ vào tổng lượng dung nạp hàng ngày, nồng độ niken trong nước uống thông thường ít hơn 0,02 mg/L. Tuy nhiên, đối với khu vực bị ô nhiễm nặng hoặc những nguồn nước ngầm có đặc điểm địa chất nhiều niken hoặc những khu vực sử dụng vòi nước làm từ vật liệu chứa niken thì hàm lượng niken trong nước có thể lên đến 1 mg/L. Theo nghiên cứu, mức dung nạp hàng ngày là 12 m/kg thể trọng. Về tác hại đến sức khỏe, IARC đã kết luận rằng các hợp chất niken thuộc nhóm có thể gây ung thư cho con người (Nhóm 1) và niken kim loại là có thể gây ung thư (Nhóm 2B). Viêm da tiếp xúc dị ứng là hiệu ứng phổ biến nhất của niken trong quần thể dân cư. WHO đưa ra hướng dẫn về giá trị giới hạn tối đa đối với niken trong nước là 0,07mg/L.

2.2.2.16. + 2.2.2.17. Nitrat (NO3tính theo N) và Nitrit

Nitrat (công thức hóa học là NO3-) và nitrit (công thức hóa học là NO2-) là hợp chất của nitơ và oxy, thường tồn tại trong đất và trong nước. Đây là nguồn cung cấp nitơ cho cây trồng. Thông thường nitrat không gây ảnh hưởng sức khỏe, tuy nhiên nếu nồng độ nitrat trong nước quá lớn hoặc nitrat bị chuyển hóa thành nitrit sẽ gây ảnh hưởng có hại đến sức khỏe.

Sự có mặt của nitrat và nitrit trong nước cho thấy nguồn nước đã bị nhiễm bẩn từ sử dụng phân bón trong nông nghiệp, bể phốt, hệ thống xử lý nước thải, chất thải động vật, chất thải công nghiệp hoặc từ ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Ngoài ra, hàm lượng nitrat trong nước cao cho thấy nguồn nước đã bị nhiễm bẩn bởi một số chất ô nhiễm khác như vi khuẩn hoặc thuốc trừ sau, những chất ô nhiễm này có thể thâm nhập nguồn nước và hệ thống phân phối nước giống như nitrat và nitrit.

        Ảnh hưởng của nitrat, nitrit tới sức khỏe

Nitrit (NO2-), nitrat (NO3-) là những chất có tính độc hại tới sinh vật và con người vì sản phẩm nó chuyển hóa thành có thể gây độc cho cá, tôm, v.v, gây ung thư cho con người.

Qua kết quả xét nghiệm trong những năm gần đây cho thấy có một số mẫu nước hàm lượng Nitrat (NO3tính theo N) và Nitritvượt giới hạn cho phép do vậy đề xuất đưa chỉ tiêu này vào để giám sát định kỳ.

2.2.2.18. Sắt (Fe)

Sắt là một trong những kim loại có nhiều nhất trong lớp vỏ Trái đất. Nó được tìm thấy trong nước ngọt tự nhiên ở mức từ 0,5 đến 50 mg/L. Nước ngầm kỵ khí có thể chứa sắt kim loại ở nồng độ lên đến vài miligam mỗi lít mà không bị đổi màu hoặc đục trong nước khi được bơm trực tiếp từ giếng. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với không khí, sắt kim loại sẽ oxy hóa thành oxit sắt, làm nước có màu nâu đỏ khó chịu. Sắt cũng thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn sắt và trong quá trình này tạo ra một lớp phủ mỏng trên đường ống. Khi hàm lượng sắt vượt quá 0,3 mg/L sẽ gây ố màu quần áo và ống nước. Khi nồng độ sắt dưới 0,3 mg/L sẽ không cảm thấy nước có mùi vị lạ. Hiện tại, WHO chưa đưa ra giá trị hướng dẫn cho sắt trong nước uống.

Qua kết quả xét nghiệm trong những năm gần đây cho thấy có một số mẫu nước hàm lượng Sắt (Fe)vượt giới hạn cho phép vậy, đề xuất đưa chỉ tiêu này vào để giám sát định kỳ.

2.2.2.19. Sunphat (SO42-)

Xuất hiện tự nhiên trong nhiều khoáng chất và được sử dụng thương mại, chủ yếu trong các ngành công nghiệp hóa chất. Chúng được thải vào nước trong chất thải công nghiệp và thông qua lắng đọng trong khí quyển; Tuy nhiên, hàm lượng cao nhất thường xuất hiện trong nước ngầm và từ các nguồn tự nhiên. Nhìn chung, lượng sunphat hấp thụ vào cơ thể trung bình là 500mg/ngày chủ yếu qua thực phẩm. Tuy nhiên, nếu nguồn nước uống có chứa hàm lượng sunphat cao thì đây có thể là nguồn chính cung cấp sunphat vào cơ thể con người. Sunphat được coi là một trong những ion ít gây độc đến cơ thể con người nhất nhưng nếu hấp thụ lượng sunphat khoảng 1000 – 2000mg (tương đương với 14 - 29mg/kg thể trọng) có thể ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa (có thể gây tiêu chảy nhẹ) (McKee, J.E and Wolf, H.W., 1963). Tổ chức Y tế Thế giới hiện nay đưa sunphat vào nhóm chất chưa có đầy đủ bằng chứng ảnh hưởng tới sức khỏe và không có hướng dẫn về GHTĐCP đối với sunphat trong nước uống. Tuy nhiên, sunphat có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng nước uống về mặt cảm quan do gây mùi khó chịu với hàm lượng từ 250mg/L (đối với natri sunphat) đến 1.000mg/L (đối với canxi sunphat). Do vậy, đa phần tiêu chuẩn của các nước như Thái Lan, Malaysia, Lào, Mỹ, Châu Âu, Hàn Quốc đều quy định GHTĐCP sunphat trong nước từ 200 đến 250 mg/L.

Qua kết quả xét nghiệm trong những năm gần đây cho thấy có một số mẫu nước hàm lượng Sunphat (SO42-) vượt giới hạn cho phép vậy, đề xuất đưa chỉ tiêu này vào để giám sát định kỳ.

2.2.2.20. Sunfua

Sunfua là một anion vô cơ của lưu huỳnh với công thức hóa học là S2− hoặc một hợp chất chứa một hoặc nhiều ion S2−. Nó góp phần làm cho muối sunfua không có màu.... Sunfua là anion lưu huỳnh đơn giản nhất.

Lưu huỳnh là một phi kim phổ biến, trong dạng gốc của nó là chất rắn kết tinh màu vàng chanh. Trong tự nhiên, có thể tìm thấy chúng ở dạng đơn chất hay trong các khoáng chất sulfua và sulfat. Trong đó, lưu huỳnh đặc biệt không được ưa thích do mùi của nó. Nó có mùi như mùi mùi trứng ung. Mùi này thực ra là đặc trưng của sulfua hiđrô (H2S).

Lưu huỳnh dạng đơn chất có thể tìm thấy ở gần các suối nước nóng và các khu vực núi lửa tại nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là dọc theo vành đai lửa Thái Bình Dương. Lưu huỳnh được sử dụng chủ yếu trong các loại phân bón hay trong thuốc súng, diêm, thuốc trừ sâu và thuốc diệt nấm,…

Hydrogen sulfide (H2S) là một loại khí được hình thành do sự phân hủy các chất hữu cơ như thực vật. Nó là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước. Thường được tìm thấy trong nước giếng khoan. Thêm nữa, trong nguồn nước thường xuất hiện hình thức khác của lưu huỳnh là sulfua và bisulfide. 

Nước cấp có chứa hàm lượng H2S thấp khoảng 1,0 PPM đã có đặc tính ăn mòn. Làm xỉn màu các đố dùng bằng bạc hay đồng. Ngoài ra còn làm cho quần áo và đồ gốm có vết đen. H2S là một loại khí độc thường được tìm thấy trong nhiều môi trường làm việc, và thâm trí ở nồng độc thấp nó cũng độc. Nó có thể được tạo ra từ các sản phẩm của con người hoặc sự phân hủy của các phụ phẩm trong tự nhiên. Do đó, H2S là mối nguy hiểm cho người lao động.

Lưu huỳnh trong công nghiệp là một chất vô cùng độc hại. Nếu nó bị nhiễm vào nguồn nước có thể gây nguy hiểm cho các sinh vật và vi sinh vật. Điển hình như cá, tôm, cua, ngao, sò,.. Khiến chúng bị ngộ độc và chết. Thêm vào đó, nếu người dân vô tinh ăn phải các loài sinh vật sống dưới nước bị nhiễm lưu huỳnh cũng có nguy cơ bị nhiễm độc gián tiếp.

Mặc dù lưu huỳnh dioxit là khá an toàn để sử dụng như là phụ gia thực phẩm với một lượng nhỏ. Tuy nhiên, khi ở nồng độ cao nó phản ứng với hơi ẩm để tạo ra axit sulfurơ. Gây tổn thương cho phổi, mắt hay các cơ quan khác. Trong các sinh vật không có phổi như côn trùng hay thực vật thì nó ngăn cản sự hô hấp.

         Sulfua hiđrô là rất độc (nó độc hơn nhiều so với xyanua). Mặc dù ban đầu nó có mùi, nhưng nó nhanh chóng làm mất cảm giác mùi. Vì thế các nạn nhân có thể không biết được sự hiện diện của nó cho đến khi đã quá muộn.

2.2.2.21. Thủy ngân

Thủy ngân là một kim loại nặng rất độc và khó phân hủy trong môi trường. Chất này có thể thải vào không khí, nước và đất thông qua các hoạt động của con người như khai thác mỏ, sản xuất xi-măng, và đốt nhiên liệu. Thủy ngân được dùng trong các thiết bị điện tử và đo đạc, mỹ phẩm, đèn chiếu sáng, pin, và trong một số quy trình công nghiệp. Công ước Minamata về thủy ngân là một Hiệp định Đa phương về Môi trường được thông qua vào năm 2013 và quy định các biện pháp thực tế để đối phó với tác hại của thủy ngân.

Theo kiểm kê thủy ngân quốc gia (2019) của Cục Hóa chất - Bộ Công thương thủy ngân phát thải trong ngành sản xuất xi măng đứng thứ 3 chiếm 15,9% tổng phát thải thủy ngân. Hiện tại trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 9 công ty sản xuất xi măng ….

        Thủy ngân trong môi trường

Hàm lượng thủy ngân trong không khí nằm trong khoảng từ 2 -10ng/m3.

Hàm lượng thủy ngân trong nước mưa dao động từ 5-100ng/L. Hàm lượng thủy ngân tự nhiên trong nước ngầm và nước bề mặt thường < 0,5μg/L.

Thực phẩm là nguồn hấp thu thủy ngân chính của con người (không kể các nguồn tiếp xúc nghề nghiệp). Cá được cho là nguồn thực phẩm chứa hàm lượng thủy ngân hữu cơ cao nhất. Lượng hấp thu thủy ngân hàng ngày từ thực phẩm dao động từ 2 - 20μg/L nhưng có thể cao hơn ở những vùng nước bị nhiễm thủy ngân.

Có nhiều con đường để thủy ngân thâm nhập vào nước ăn uống

- Mưa có thể rửa trôi thủy ngân có trong không khí và đổ và nguồn nước bề mặt như sông, hồ, hồ chứa nước.

- Thủy ngân từ các điểm xả thải chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại có thể ngấm qua các tầng đất và gây ô nhiễm nguồn nước ngầm.

- Vứt bỏ các sản phẩm gia dụng chứa thủy ngân bừa bãi có thể làm nguồn nước ngầm bị nhiễm thủy ngân.

Thủy ngân là kim loại lỏng khó phân hủy trong môi trường và tích lũy sinh học trong chuỗi thức ăn. Thủy ngân ít độc, nhưng hơi, các hợp chất và muối của nó rất độc, có thể gây tổn thương hệ thần kinh, tiêu hóa, hô hấp, hệ thống miễn dịch và thận. Cho dù ít độc hơn so với các hợp chất của nó nhưng thủy ngân vẫn tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối với môi trường vì nó tạo ra các hợp chất hữu cơ trong cơ thể sinh vật. Có ba nguồn phát thải thủy ngân chính gồm 10% từ nguồn địa chất tự nhiên, 30% từ hoạt động của con người và 60% thủy ngân “tái-phát thải” từ thủy ngân được thải ra trước đó tích tụ ở lớp đất bề mặt và đại dương hàng thế kỷ qua.

Thủy ngân giải phóng từ chất thải có chứa thủy ngân tồn tại trong môi trường (đất, nước, không khí, trầm tích, thực vật..) hoặc tích tụ trong chuỗi thức ăn và vào cơ thể con người thông qua tiêu thụ cá và hải sản, hoặc hơi thủy ngân trực tiếp hoặc được hấp thụ trên tóc của con người. Chương trình môi trường liên hiệp quốc (UNEP) nêu rõ điều đáng lo ngại là ngày càng có nhiều thủy ngân lẫn trong sông hồ vốn luôn là nguồn nước sinh hoạt chính của con người. Theo số liệu của tổ chức này hiện có khoảng 260 tấn thủy ngân lẫn trong dòng nước của các sông hồ trên toàn thế giới, và cũng do hoạt động của con người. Trong vòng 100 năm qua, lượng thủy ngân đã tăng gấp đôi trên bề mặt của các đại dương. Còn ở đáy các đại dương, lượng thủy ngân cũng tăng 25%, cuối cùng chính con người là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả từ thực trạng ô nhiễm trên, mà một trong những nguyên nhân đó là việc sử dụng nguồn thủy sản nhiễm thủy ngân.

Thủy ngân được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp như hóa chất, phân bón, chất dẻo, kỹ thuật điện, điện tử, xi măng, sơn, tách vàng bạc trong các quặng sa khoáng, sản xuất các loại đèn huỳnh quang, pin, phong vũ kế, nhiệt kế, huyết áp kế, mỹ phẩm… Theo báo cáo của Cục hóa chất-Bộ Công thương tại Hội thảo quản lý và sử dụng an toàn hóa chất diệt khuẩn và thiết bị y tế có chứa thủy ngân tại Vũng tàu ngày 11/7/2014 thì Việt Nam có 4 ngành chính liên quan đến sử dụng và phát thải thủy ngân gồm sản xuất và sử dụng thiết bị chiếu sáng, đốt than từ nhà máy phân bón, lĩnh vực y tế và khai thác vàng thủ công quy mô nhỏ. Hiện nay có khoảng 70 triệu bóng đèn huỳnh quang được sản xuất một năm tại Việt nam, sử dụng 3000 kg thủy ngân lỏng và 64 triệu hạt thủy ngân và làm phát thải khoảng 350.000 mg chất thải thủy ngân mỗi năm. Các nhà máy phân bón tiêu thụ khoảng 220.000 tấn than/năm (140.000 tấn than cục và 80.000 tấn than cám). Lượng thủy ngân phát thải từ than cục là 0,4 ppm và từ than cám là 0,2 ppm. Cho đến nay chưa có số liệu cụ thể về lượng thủy ngân sử dụng và phát thải từ hoạt động khai thác vàng thủ công quy mô nhỏ không chính quy.

         Ảnh hưởng của thủy ngân đến sức khỏe

Thủy ngân có thể gây ra nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Dạng và mức độ nghiêm trọng tùy thuộc vào dạng tồn tại và hàm lượng thủy ngân mà chúng ta tiếp xúc hoặc ăn/uống phải cũng như lượng thủy ngân tích tụ trong cơ thể theo thời gian.

Ngộ độc cấp tính thủy ngân có thể gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh, phá hủy gan và thận. Một số triệu chứng của ngộ độc cấp tính do ăn/uống phải thủy ngân bao gồm sốc, viêm họng, khó nuốt, đau bất thường, buồn nôn và nôn, đi ngoài ra máu. Những triệu chứng ban đầu này có thể dẫn đến việc phá hủy hệ tim mạch, xuất huyết dạ dày và ruột kết, phá hủy thận nghiêm trọng.

Các hợp chất thủy ngân hữu cơ là dạng độc nhất. Các hợp chất này dễ dàng được hấp thụ vào máu qua hệ tiêu hóa và ở hàm lượng cao có thể phá hủy hệ thần kinh và thận.

(Từ sự phổ biến trong môi trường, xâm nhập vào nước bằng nhiều đường, sự gia tăng trong môi trường từ các hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày, mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe - Đề xuất đưa chỉ tiêu này vào để giám sát định kỳ).

2.2.2.22. Tổng chất rắn hòa tan (TDS)

Tổng chất rắn hòa tan (TDS) bao gồm muối vô cơ (chủ yếu là canxi, magiê, kali, natri, bicacbonat, clorua và sunfat) và một lượng nhỏ chất hữu cơ hòa tan trong nước. TDS trong nước uống có nguồn gốc từ tự nhiên, nước thải đô thị và nước thải công nghiệp. Nồng độ TDS trong nước thay đổi đáng kể ở các vùng địa chất khác nhau do sự khác biệt về độ hòa tan của khoáng chất. Hiện tại chưa xác định các ảnh hưởng tới sức khỏe liên quan đến việc uống TDS trong nước uống và WHO không có giá trị hướng dẫn dựa trên sức khỏe nào được đề xuất. Tuy nhiên, sự hiện diện của hàm lượng TDS cao trong nước uống có thể gây khó chịu cho khách hàng. Nước có được xem có chất lượng tốt khi tổng chất rắn hòa tan (TDS) dưới 600 mg/L và không hấp dẫn ở mức TDS lớn hơn 1000 mg/L.

Qua kết quả xét nghiệm trong những năm gần đây cho thấy hàm lượng Tổng chất rắn hòa tan (TDS)vượt giới hạn cho phép vậy, đề xuất đưa chỉ tiêu này vào để giám sát định kỳ.

2.2.2.23. Xyanua (CN)

Xyanua là một hợp chất hoá học có chứa nhóm xyanua, bao gồm một nguyên tử các-bon liên kết ba với một nguyên tử ni-tơ. Xyanua có mặt trong nguồn nước do ô nhiễm từ các loại nước thải ngành nhựa, xi mạ, luyện kim, hóa chất, sợi tổng hợp. Xyanua có thể được sản sinh bởi vi khuẩn, nấm và tìm thấy trong một số thực phẩm thực vật như măng tre, rễ sắn, rau chân vịt. Chất này tồn tại trong nước, đất là nguồn thải của quá trình khai thác mỏ, công nghiệp hóa dầu, sản xuất thép. Một số nguồn xyanua khác từ khói xe và động cơ sử dụng xăng dầu.

Xyanua rất độc, thường tấn công các cơ quan như phổi, da, đường tiêu hóa. Tiêu chuẩn nước uống và nước sạch đều quy định hàm lượng xyanua nhỏ hơn 0,07 mg/l.

Khi đi vào cơ thể sinh vật, xyanua tác động lên men oxydaza (có chức năng chuyển oxy từ máu đến các mô). Từ đó ngăn cản quá trình hấp thụ oxy của tế bào làm cho tế bào chết đi. Sinh vật nhiễm độc chất này ở mức độ nặng có thể dẫn đến ngạt thở và tử vong nhanh chóng.

Nghiên cứu lâm sàng ghi nhận nếu chỉ nhiễm một lượng xyanua rất nhỏ thì sẽ không gây ngộ độc bởi chất này khi đi vào cơ thể sinh vật sẽ bị biến đổi thành CO2 và được đào thải ra ngoài trong vòng 24 giờ. Trường hợp nhiễm độc xyanua lượng lớn hơn một mg/l có thể dẫn đến tử vong.

Tiếp xúc với một lượng lớn cyanide có thể gây tổn thương cho não và tim mạch, nếu tiếp xúc ở liều lượng thấp có thể gây những hậu quả như khó thở, đau tim, nôn mửa, thay đổi máu, đau đầu, làm rộng tuyến giáp.

Chỉ cần 50mg - 200mg Cyanua hoặc hít phải 0,2% khí Cyanua, có thể giết chết ngay lập tức một người trưởng thành.

2.2.2.24. Phenol và dẫn xuất của Phenol

Phenol (C6 H5 OH) là hợp chất rất độc, có thể gây ảnh hưởng cấp tính và mạn tính tới sinh vật và con người: đối với sinh vật, phenol gây chết hoặc tích lũy lâu dài trong cơ thể sinh vật; đối với con người, phenol gây bỏng nặng khi tiếp xúc với da và niêm mạc, khi xâm nhập vào cơ thể, chúng gây tổn thương lên nhiều cơ quan khác nhau nhưng chủ yếu là tác động lên hệ thần kinh, hệ tim mạch và máu.

Phenol là sản phẩm phát sinh trong nước thải của quá trình luyện cốc trong các nhà máy, khu công nghiệp sản xuất gang thép, luyện kim. Một số ngành công nghiệp khác như công nghiệp dệt, nhuộm, sản xuất giấy, nhựa hoặc sản xuất thuốc trừ sâu cũng là những nguồn phát thải phenol ra môi trường. Ngoài ra, hợp chất phenol cũng được sinh ra tự nhiên trong quá trình phân hủy của thực vật và các hợp chất hữu cơ.

Phenol vào môi trường qua hoạt động xả thải trực tiếp của các nguồn công nghiệp, sa lấy từ không khí, ngấm từ đất vào nguồn nước ngầm, phenol có thể tồn tại trong nước 1 tuần hoặc nhiều hơn, phenol trong môi trường nước có khả năng gây độc cao, có thể thấy như sự kiện tháng 6/2016 công ty gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra thảm họa nghiêm trọng về hệ sinh thái biển Việt Nam nguyên nhân là do trong quá trình luyện cốc đã sinh ra các chất độc như Xyanua và phenol. Các chất này đi theo đường nước thải và gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt tại 4 tỉnh miền Trung.

Kết quả phân tích 2013 thuộc “Đề án điều tra nguồn nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm tỉnh Đak Lak”: 177 mẫu phân tích có 5 mẫu vượt giới hạn cho phép.

Các nguồn phát thải phenol trên đều phát thải chủ yếu vào môi trường nước. Bởi vậy, việc kiểm soát hàm hượng phenol trong nước là rất cần thiết. Quy chuẩn Việt Nam về nước mặt hạng B1 quy định hàm lượng phenol tổng số không vượt quá 10 µg/l với đối tượng nước phục vụ giao thông, thủy lợi và tưới tiêu (thường là nước sông, kênh, mương, rạch...).

Phenol và các dẫn xuất của phenol là các chất độc hại gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người và mọi sinh vật sống.

Trên góc độ môi trường phenol và các dẫn xuất của phenol được xếp vào loại chất gây ô nhiễm. đây là nhóm tương đối bền, có khả năng tích luỹ trong cơ thể sinh vật và có khả năng gây nhiễm độc cấp tính, mãn tính cho con người.

Khi xâm nhập vào cơ thể các phenol nói chung và Clophenol nói riêng gây ra nhiều tổn thương cho các cơ quan và hệ thống khác nhau nhưng chủ yếu là tác động lên hệ thần kinh, hệ thống tim mạch và máu.

Vậy, khi cơ thể người tiếp xúc với một lượng cực lớn phenol thì sẽ gặp những mối nguy nào? Nếu nhiễm độc đường tiêu hóa từ 50 đến 500mg ở trẻ sơ sinh, và 1-5g ở người lớn là liều gây tử vong. Phenol được hấp thu nhanh chóng từ phổi vào máu, có thể gây tử vong ở người lớn sau khi nuốt chửng từ 1 đến 32g.

May mắn là mùi phenol khó chịu nên thường chúng ta tránh được ngay khi ngửi. Nhiễm độc hay gặp nhất là tiếp xúc trực tiếp lên da, mắt. Ngay cả dung dịch phenol loãng từ 1% đến 2% cũng có thể gây bỏng nặng nếu tiếp xúc là kéo dài. Độc tính do tiếp xúc ở da, mắt tương đương như khi hít phải. Thường tử vong sau 30 phút tiếp xúc với da. Đường lây nhiễm nữa của phenol là đường tiêu hóa thông qua thức ăn bị nhiễm độc như vụ 30 tấn cá nục hiện nay.

Nếu nhiễm độc phenol lâu dài có thể gây suy thận. Phenol là một chất độc cho bào thai (fetotoxic), nhưng không gây quái thai.

Các nhà khoa học đã chứng minh phenol có thể gây ra tổn thương cấu trúc não bộ. Vì vậy, khi bị nhiễm độc phenol, con người có các biểu hiện tăng động, tăng hung hãn, suy giảm khả năng học tập, dậy thì sớm, kích thích sự phát triển tuyến vú, rối loạn chu kỳ sinh sản, bất thường buồng trứng, vô sinh...

2.2.2.25. Styren

Lượng Styren vượt ngưỡng được cho là nguyên nhân gây ra mùi khét trong nguồn nước sinh hoạt tại nhiều khu vực ở Hà Nội những ngày tháng 10 năm2019.

Như tin đã đưa, nguồn cấp nước cho Nhà máy nước của Công ty cổ phần đầu tư nước sạch Sông Đà (Viwasupco) có dấu hiệu ô nhiễm, nghi do hàng tấn dầu nhớt thải bị đổ trộm ở khu vực đầu nguồn khe núi tại xã Phú Minh, Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình, dẫn đến hiện tượng nước sinh hoạt tại các nhà dân trong toàn bộ khu vực cấp nước của nhà máy, tại các quận Thanh Xuân, Hoàng Mai, Hà Đông xuất hiện mùi “khét”.

Theo tiến sĩ Lê Thái Hà, trưởng khoa Xét nghiệm và Phân tích, Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường nước sinh hoạt có mùi lạ là không đạt Quy chuẩn về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt, do Bộ Y tế ban hành (QCVN 01:2009/BYT), dù nguyên nhân có do Styren hay bất kỳ lý do gì. Trong thực tế tại Hải Dương nhiều sông cung cấp nước cho các nhà máy nước trên địa tỉnh có lưu lượng tàu, phà lớn, đây là nguyễn nhân thải dầu mỡ gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước nguyên liệu (dầu mỡ có tính tương đối bền vững trong môi trường nước).

Styren chủ yếu tác động đến con người dưới dạng độc tố thần kinh bằng cách tấn công hệ thần kinh trung ương và ngoại biên khi tiếp xúc thời gian ngắn. Những ảnh hưởng sức khỏe này bao gồm thay đổi thị lực màu sắc, mệt mỏi, cảm thấy say, muốn nôn, thời gian phản ứng chậm lại, mất tập trung và thăng bằng.

Theo nhiều nghiên cứu, styren có khả năng gây mất thính lực ở động vật khi chúng tiếp xúc styren ở liều lượng đậm đặc. Do đó, có khả năng nếu chúng ta tiếp xúc với hợp chất này quá lâu, thính lực có thể bị suy giảm hoặc gây nhiễm trùng tai. Bởi styren có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thần kinh con người nên về dài lâu, những triệu chứng trên sẽ làm cơ thể chúng ta bị suy yếu, chán ăn và sụt cân.

Kích ứng da và mắt là một trong những triệu chứng thường gặp khi con người tiếp xúc với chất styren trong nước, đặc biệt là ở trẻ nhỏ. Tuy không đến mức nguy hiểm, nhưng đây là một dấu hiệu cho thấy nguồn nước sinh hoạt nhà bạn đang có vấn đề. Vì vậy, nếu bỗng một ngày bạn cảm thấy đau rát da và mắt sau khi rửa mặt, bạn nên tìm đến một chuyên gia xử lý nước ngay.

2.2.2.26. Xylene

 Xylene là một trong những thành phần chính của xăng, dầu mà cũng là  một trong những hydrocarbon thơm được sử dungphổbiến như sản xuất sơn, sản xuất thuốc trừ sâu, sản xuất keo dán, làm dung môi pha chế,  làm chất tẩy rửa, sản xuất nhựa.

Do chất này hòa tan trong nước, xylene được xem là một hợp chất nguy hiểm gây ô nhiễm nguồn nước.

 Hơi Xylene rất nguy hiểm, gây kích ứng mạnh với da và mắt. Hít phải hơi Xylene sẽ gây nên những tổn thương nghiêm trọng cho gan, thận và hệ thần kinh trung ương.Tiếp xúc nhiều qua đường hô hấp có thể gây buồn ngủ, suy hô hấp và ngộ độc, tiếp xúc thời gian dài có thể gây ung thư.

2.2.2.27. Trifluralin

Từ khi một số chất kháng sinh và hóa chất như xanh Malachite, Dipterex không được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản thì các nhà sản xuất giống và nuôi trồng thủy sản vẫn tiếp tục sử dụng Trifluralin để phòng và trị một số bệnh do nấm và ký sinh trùng gây ra, tuy nhiên đây cũng là một loại hóa chất gây độc hại cho người tiêu thụ sản phẩm khi dư lượng còn tồn lưu trong sản phẩm. Chính vì thế, Thông tư số 64/2010/TT-BNN về việc đưa các chất có chứa Trifluralin ra khỏi danh sách các chất cải tạo, xử lí môi trường trong nuôi trồng thủy sản được ban hành thì người sản xuất gặp không ít khó khăn trong việc phòng trị bệnh ở trại giống và ngoài ao nuôi.

 Trong nông nghiệp, Trifluralin là chất diệt cỏ, được dùng để diệt cỏ hàng niên và cỏ lá rộng. Trifluralin được xử lí trong đất trước khi cỏ nảy mầm. Cơ chế tác dụng của Trifluralin là ức chế quá trình phát triển của rễ, chúng làm gián đoạn quá trình phân bào (mitosis) trong giai đoạn phát triển sớm của tế bào mầm. Trifluralin không có hiệu quả diệt cỏ khi cỏ đã phát triển. Vì vậy, Trifluralin thường được xử lý vào đất trước khi cỏ mọc mầm để diệt cỏ.

Đối với thủy sản nuôi nước ngọt thì Trifluralin được sử dụng trong việc xử lý nước và diệt các loại ký sinh trùng gây bệnh

Đối với con người, Trifluralin có thể gây dị ứng da khi con người tiếp xúc với nó. Hít phải hơi có thể gây kích thích niêm mạc miệng, cổ họng hoặc phổi. Các triệu chứng có thể xuất hiện khi hít phải hơi của Trifluralin bao gồm đau đầu, chóng mặt và sức khỏe suy sụp, nếu nuốt phải, trifluralin có thể gây nôn mửa, chuột rút và và có thể gây kích thích cho đôi mắt. Kéo dài hoặc lặp đi lặp lại tiếp xúc với trifluralin có thể gây kích thích da. Ở mức cao trong một thời gian dài có thể gây tổn hại gan và thận. 

 Trifluralin được cơ quan bảo vệ môi trường (EPA) của Hoa Kỳ phân loại trong nhóm C, là chất có thể gây ung thư cho con người.

Trong nông nghiệp, việc tồn tại của trifluralin trong đất nông nghiệp sau khi sử dụng được ghi nhận rất khác nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm cả độ ngấm của thuốc trong đất, độ ẩm đất và nhiệt độ, trung bình 126 đến 190 ngày. Trifluralin là chất hiện nay được dùng phổ biến trên địa bàn tỉnh hải Dương (Theo thống kê của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Hải Dương)

Tóm lại, Trifluralin ảnh hưởng đến sức khỏe con người, ngay cả ở liều lượng rất thấp, có thể phá vỡ các nội tiết tố, gây ung thư cho con người. Bên cạnh đó cũng gây độc đối với động vật thủy sinh, ảnh hưởng đến các loài cần được bảo tồn. Trifluralin có thể phát tán trong bầu khí quyển, có nghĩa là trifluralin có thể trở thành một chất gây ô nhiễm trên diện rộng.

2.2.2.28. Atrazine

Atrazine là một loại thuốc diệt cỏ được sản xuất bởi Syngenta AG, một công ty toàn cầu có trụ sở tại Thụy Sĩ. Ở Hoa Kỳ, sản phẩm được sử dụng chủ yếu để diệt cỏ dại. Nó lần đầu tiên được Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) đăng ký làm thuốc diệt cỏ vào năm 1958.

Nó cũng được sử dụng trong các sản phẩm khác cho mục đích canh tác và atrazine không chỉ ở nơi mà nó phun. Nó thường kết thúc trong nước mặt và nước ngầm.  Atrazine là chất hiện nay được dùng phổ biến trên địa bàn tỉnh hải Dương (Theo thống kê của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Hải Dương).

Atrazine là một chất gây rối loạn nội tiết. Một trong những tác dụng đáng sợ nhất của atrazine là nó là một Rối loạn nội tiết. Đây là những hóa chất xa lạ với cơ thể con người, sau một mức độ phơi nhiễm nhất định, phá vỡ hệ thống nội tiết của chúng ta -còn được gọi là hệ thống nội tiết tố. Sự gián đoạn nội tiết có thể gây ra tác dụng phụ phát triển, sinh sản, thần kinh và miễn dịch ở người và động vật hoang dã.

Các nhà nghiên cứu tin rằng những thay đổi đáng sợ này xảy ra vì atrazine làm giảm sản xuất nội tiết tố nam, đồng thời làm tăng tác dụng của estrogen, nội tiết tố nữ.

Ảnh hưởng đến cấp nước và môi trường sự xâm nhập của Atrazine vào nguồn cung cấp nước thực sự nghiêm trọng. Các thử nghiệm được thực hiện bởi chính EPA đã phát hiện ra rằng nguồn cung cấp nước thường vượt quá 3 ppb.

Báo cáo NRDC toàn diện tương tự cũng đã phân tích nước từ 153 trạm nước trên khắp Hoa Kỳ từ năm 2005 đến năm 2008. Kết quả thật đáng lo ngại. 80% nước chưa được xử lý và sẵn sàng để tiêu thụ có chứa nồng độ atrazine có thể phát hiện được. Hai phần ba có nồng độ tối đa của atrazine vượt quá 3 ppb trong nước uống thành phẩm.

Người dân thường không biết rằng atrazine có trong nguồn nước, để cung cấp cho họ tùy chọn sử dụng nước lọc. Và loại bỏ nó là tốn kém, vì cộng đồng phải cài đặt hệ thống xử lý nước đắt tiền. Trên thực tế, ở một số nơi mà các quan chức địa phương lo ngại về mức độ atrazine, các hệ thống nước đã thực sự kiện các nhà sản xuất atrazine để khiến họ phải trả chi phí cho việc loại bỏ thuốc diệt cỏ khỏi nước uống.

Điều này là đáng sợ cho bất cứ ai, nhưng đặc biệt là đối với phụ nữ mang thai. Có một số dị tật bẩm sinh có liên quan đến atrazine nước mặt.

Một nghiên cứu cho thấy khuyết tật bẩm sinh hiếm gặp của khoang mũi, choanal atresia, có liên quan đến atrazine. Tình trạng này làm suy yếu khả năng thở của bé, và nó nghĩ rằng các hóa chất ảnh hưởng đến hệ thống nội tiết của mẹ là đáng trách. Nghiên cứu cho thấy những đứa trẻ được sinh ra từ các bà mẹ ở các hạt T.exas được biết là có sử dụng atrazine cao có nguy cơ tăng gần gấp đôi. 

2.2.2.29.Chlorpyrifos

Chlorpyrifos, một loại hóa chất trừ sâu nhóm lân hữu cơ được dùng phổ biến cho cả mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp được đưa vào thị trường trên thế giới từ năm 1965. Tại các nước đang phát triển, Chlorpyrifos được nông dân sử dụng chủ yếu trong nông nghiệp như trồng lúa, rau và hoa quả ở quy mô trang trại nhỏ. Đây cũng là loại hóa chất trừ sâu lân hữu cơ được đề cập đến nhiều do tác hại sức khỏe đối với nông dân gây ra do phơi nhiễm khi pha trộn, vận chuyển và phun rải Chlorpyrifos.

Trong Danh mục thuốc vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam, Chlorpyrifos là một trong số các hoạt chất có số lượng sản phẩm nhiều nhất trong số các loại hóa chất trừ sâu thuộc nhóm lân hữu cơ. Chlorpyrifos cũng là chất hiện nay được dùng phổ biến trên địa bàn tỉnh Hải Dương (Theo thống kê của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Hải Dương).

Chlorpyrifos là chất độc hại đối với con người. Da tiếp xúc với Chlorpyrifos có thể đổ mồ hôi cục bộ và các cơn co thắt cơ bắp không tự chủ. Khi mắt tiếp xúc với Chlorpyrifos có thể gây đau, chảy nước mắt và mờ mắt. Ngộ độc Chlorpyrifos sẽ ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương, nói líu lưỡi, mất phản xạ, suy nhược, mệt mỏi, co thắt cơ không tự chủ, co giật, và cuối cùng tê liệt tứ chi cơ thể và các cơ hô hấp. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể có những đại tiện không tự nguyện hoặc rối loạn tâm thần, nhịp đập bất thường tim, bất tỉnh, co giật và hôn mê. Có thể chết do suy hô hấp hoặc tim ngừng đập.

Theo nghiên cứu: “Nguy cơ sức khỏe do phơi nhiễm Chlorpyrifos trên đối tượng nông dân trồng lúa tại Thái Bình, đánh giá nguy cơ sức khỏe bằng phương pháp xác suất” của tác giả Phùng Trí Dũng, Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế và cộng sự công bố trên Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIII, số 4 (140) ngày 28.6.2013: “Liều phơi nhiễm nền (ADDB) dao động từ 0,03 – 1,98 µg/kg/ngày và liều phơi nhiễm sau khi rải (ADDA) dao động từ 0,35-94 µg/kg/ngày. Liều phơi nhiễm toàn phần (ADDT) dao động từ 0,4 đến 94,2 µg/kg trọng lượng cơ thể/ngày. RADD có giá trị dao động từ 5-181 µg/kg trọng lượng cơ thể/ngày. Chỉ số nguy cơ (Hazard Quotient) được tính toán cho thấy liều phơi nhiễm nền không gây nguy cơ sức khỏe đáng kể, tuy nhiên liều phơi nhiễm sau rải (hoặc toàn phần) gây nguy cơ tác hại sức khỏe với 33% đối tượng nông dân tham gia trực tiếp phun rải Chlorpyrifos”.

2.2.2.30+2.2.2.31+2.2.2.32+2.2.2.33.Bromoform,Chloroform,Bromodichloromethane,Dibromochloromethane. Nhóm hóa chất khử trùng và sản phẩm phụ

 Để bảo vệ nguồn nước từ khâu sản xuất đến nơi tiêu dùng khỏi sự xâm nhập của các vi sinh vật, các nhà máy nước phải khử trùng nguồn nước. Đa phần các nước nghèo và các nước đang phát triển đều sử dụng clo để diệt khuẩn và yêu cầu bắt buộc phải có một lượng clo dư trong nước khi cấp nước đến hộ gia đình. Do vậy chỉ tiêu Clo dư được giám sát ở cấp độ A. Tuy vậy khi sử dụng Clo khử trùng có thể tạo ra các sản phẩm phụ không mong muốn vì Clo tác dụng với các chất trong nguồn nước đặc biệt là amoni sinh ra cloramin và các hợp chất Trihalogemetan (THMs) có nguy cơ nguy hiểm tới sức khỏe. Trong quy chuẩn QCVN 01 quy định mức GHTĐCP 16 sản phẩm phụ ở cả hai mức giám sát là B và C.

Với chỉ tiêu nhiều biến động và thất thoát trên đường di chuyển như Clo dư nên có quy định khác nhau về nồng độ tại các vị trí như: Đầu nguồn cấp, trên mạng lưới, tại vòi nước của khách hàng. Theo hướng dẫn của WHO thì lượng clo dư tổng số, bao gồm cả dạng tự do và kết hợp trong nước cho phép đến 5mg/L vẫn không có các ảnh hưởng về sức khỏe.

Tham khảo tiêu chuẩn clo dư trong nước ăn uống của Canada cho thấy: Nồng độ clo dư tự do trong hệ thống phân phối nước ăn uống được duy trì trong khoảng từ 0,04 mg/L đến 2,0 mg/L. Tiêu chuẩn về clo dư tự do của Canada cũng quy định: Tại điểm đầu của mạng lưới phân phối nước, clo dư từ 0,4 mg/L - 1,2mg/L và từ 0,04 đến 0,8 mg/L ở cuối điểm phân phối của mạng lưới cấp nước.

Theo WHO (1997), clo dư duy trì 0,2 - 0,5 mg/L duy trì trên toàn hệ thống phân phối. Nhìn chung theo WHO clo dư duy trì tối thiểu 0,2 mg/L thì mới kiểm soát được E.coli và vi khuẩn nói chung (WHO, 2011).

Tiêu chuẩn nước ăn uống của Lào quy định clo dư tự do trong hệ thống phân phối từ 0,1 đến 2 mg/L. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn Malaysia quy định nồng độ clo dư: từ 0,2 đến 5 mg/L trong hệ thống cấp nước. Tiêu chuẩn của Hàn Quốc cũng hướng dẫn clo dư cả dạng tự do và kết hợp là 4 mg/L.

Việc bổ sung clo dư vào nguồn nước có tạo được hiệu quả diệt khuẩn cho nguồn nước hay không (hình thành dạng clo dư tự do) phụ thuộc đặc biệt vào pH, độ đục, hàm lượng amoni, v.v của nguồn nước. Tuy nhiên, với khoảng giới hạn cho phép quy định hàm lượng clo dư từ 0,3 - 0,5mg/L, hầu hết các công ty cấp nước đều không đảm bảo duy trì lượng clo dư này trong nước cấp. Nếu đạt mức nồng độ này ở các hộ dân cuối hệ thống phân phối thì các hộ gia đình ở đầu hệ thống phân phối sẽ bị vượt quá lượng clo dư tối đa cho phép. Do vậy hàm lượng clo dư nên được mở rộng và cần được xác định rõ là áp dụng tại điểm nào của hệ thống cấp nước. Bên cạnh đó, cần quy định rõ hàm lượng clo dư là clo dư tổng hay clo dư tự do để tránh gây lúng túng cho các đơn vị trong quá trình kiểm tra, giám sát chất lượng nước.

Monocloramin là sản phẩm phụ của quá trình khử trùng nước bằng clo khi trong nước có mặt amoni và pH thích hợp, ngoài ra còn hình thành dicloramin và triclonito, GHTĐCP trong QCVN 01 là 3 µg/L, trong khi theo hướng dẫn của WHO thì GHTĐCP là 3 mg/L.

Đối với HCOH hiện nay không những WHO không có hướng dẫn về GHTĐ trong nước uống mà còn trong tiêu chuẩn của nhiều nước khác, tuy nhiên Việt nam, Malaysia, Hàn Quốc vẫn quy đinh GHTĐ cho chỉ tiêu này.

Nhóm hợp chất sản phẩm phụ trong quá trình khử trùng nước dạng Trihalogenmethane (THMs) gồm Bromofoc, Clorofoc, Dibromoclometan (Br2ClCH) và Bromodiclorometan (BrCl2CH) – BDCM) là nhóm hợp chất sản phẩm phụ được quan tâm đặc biệt trong quá trình dùng clo để khử trùng nguồn nước vì nhóm THMs có nguy cơ gây ung thư lớn cho người sử dụng. THMs không những có trong hướng dẫn về GHTĐCP trong nước của WHO mà còn trong hầu hết các tiêu chuẩn của các nước, đối với nhiều nước như Nhật, Hàn Quốc, Canada, Mỹ, GHTĐCP này có phần nghiêm ngặt hơn hướng dẫn của WHO, tuy nhiên Thái Lan, Lào không có hướng dẫn này trong tiêu chuẩn.

2.3. Thuyết minh 58 thông số còn lại không lựa chọn đưa vào QCKTĐP

2.3.1. Các thông số vô cơ

Antimon (Sb): là một phi kim hiếm gặp trong tự nhiên. Theo WHO, hàm lượng antimony trong nước ngầm thường thấp hơn 0,001µg/L, trong nước bề mặt < 0,2µg/L và trong nước ăn uống thường <5 µg/L. Mặc dù antimony, theo IARC, ở dạng antimony (III) thuộc nhóm 2B có thể gây ung thư ở người nhưng, đường phơi nhiễm chủ yếu qua tiếp xúc nghề nghiệp (hít thở hoặc tiếp xúc qua da). Ngoài ra, đặc điểm địa hình, đất đai thổ nhưỡng (mục 2.1.1), khoáng sản trên địa bàn Hải Dương chủ yếu là đá vôi, cao lanh, sét chịu lửa, boxit với thành phần khoáng chủ yếu là CaCO3, Fe2O3, Al2O3 và SiO2mà không có antimony. Bên cạnh đó, theo kết quả đánh giá chất lượng nước thành phẩm trong các năm 2017-2019 của Sở Nông nghiệp, Công ty cổ phần kinh doanh nước sạch Hải Dương, Công ty cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn và kết quả ngoại kiểm của ngành y tế, Cũng như nước thải từ hoạt động công nghiệp không có thành phần antimony trong nước thành phẩm là  không có Chính vì vậy, lựa chọn không đưa antimony vào quy chuẩn kỹ thuật địa phương mà sẽ đánh giá tổng thể định kỳ 3 năm/lần theo quy định trong QCVN 01-1:2018/BYT.

Bari (Ba):Bari là kim loại có khá nhiều trong lớp vỏ trái đất, tuy nhiên, đặc điểm địa hình, địa chất Hải Dương không có quặng Bari nên khả năng cao hàm lượng bari trong tự nhiên, đặc biệt trong đất và thôi nhiễm vào nước là thấp. Mặc dù, các hợp chất của bari, đặc biệt là những hợp chất dễ tan trong nước có thể gây liệt và thậm chí gây chết, nhưng theo kết quả đánh giá chất lượng nước thành phẩm từ 2017-2019 của Sở Nông nghiệp, Công ty cổ phần kinh doanh nước sạch Hải Dương, Công ty cổ phần nước sạch và vệ sinh nông thôn và kết quả ngoại kiểm của ngành y tế. Cũng như kết quả quan trắc nước thải từ hoạt động công nghiệp không có thành phần bari trong nước. Chính vì vậy, lựa chọn không đưa bari vào quy chuẩn kỹ thuật địa phương mà sẽ đánh giá tổng thể định kỳ 3 năm/lần theo quy định trong QCVN 01-1:2018/BYT.

Bor: Bor có trong nước ngầm chủ yếu từ thôi nhiễm từ lớp đất, đá có chứa borate và borosilicates. Địa chất Hải Dương chủ yếu là các quặng chứa CaCO3, Fe2O3, Al2O3 và SiO2; bên cạnh đó, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hải Dương, theo kết quả quan trắc định kỳ của Sở TN&MT, nước thải phát sinh đã được xử lý và đáp ứng theo quy chuẩn QCVN 40/2011/BTNMT.  

Chromi,Seleni:docókhảnăngônhiễmchủyếu từhoạtđộngcôngnghiệp như sản xuất thép, phân bón, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, sơn…,

2.3.2. Nhómcácchấthữucơ

NhómAlkanclohóa(8thôngsố Tricloroetan, Dicloroetan, Dicloroeten, Cacbontetraclorua, Diclorometan, Tetracloroeten, Tricloroeten,  Vinylclorua ):Nhómchấtnàychủyếuxuấthiệntrongnguồnnướcdocóônhiễmcácchấthữucơtừbênngoài,đaphầndocáchoạtđộngcôngnghiệpnhưtổnghợpnhựa,caosu,chếtạochấtdẻo,dầumỏ,chônlấpchấtthảihoặcảnhhưởngphôinhiễmtừcácđườngốngphânphốinướccónguồngốctừchấtdẻo.Hoặccómộtsốchấtnhư(1,2-Dicloroeten,Tricloroeten,Tetracloroeten)cóthểbịảnhhưởngtừquátrìnhdùngclokhửtrùngnguồnnướckhinguồnnướccó1sốanken.Trongnướcthôngthườngcácchấtthuộcnhómalkanclohóanàythườngtìmthấyởdạngvếthoặcsiêuvết.

Nhómchấtnàycónhiềuảnhhưởngtớihệthầnkinh,gan,máu,tuyếnthượngthận,cónguycơgâyungthưkhiởngưỡngnồngđộnhấtđịnh,8chấttrongnhómankalclohóahiệnnaykhôngnhữngWHOmàcònnhiềuquốcgiakhác như Malaysia,Mỹ,Canada,ChâuÂu,Nhậtđềucónhữnghướngdẫnmứcnồngđộchophépvànhữngảnhhưởngtớisứckhỏe,trongđóvinylclorua,tricloroetenđềucóhướngdẫngiảmvềGHTĐCP.

NhómHydrocacbuathơm(3thôngsố Benzen, Etylbenzen, Toluen ):trongQCVNmớiloạibỏthôngsốbenzo(a)pyrendochấtnàytuythuộcnhómhydrocacbonđavòngthơmcókhảnănggâyungthưnhưngchỉkhitồntạitrongkhôngkhí.Córấtíttiêuchuẩncácnướcquyđịnhvànănglựcphântíchcònhạnchếđốivớithôngsốnày.

Nhómchấthydrocacbonthơmđivàonguồnnướcđềudohoạtđộngnôngnghiệp,côngnghiệp(cáchoạtđộngtừbênngoài)củaconngườitácđộngtới,trongnướctựnhiênngườitaquansátthấynồngđộvếtcủacáchợpchấtnày:benzen<5µg/l,xylen<8µg/l. NhómchấtnàycóđộctínhcaogâynhiềuảnhhưởngtớihệthầnkinhvàcókhảnănggâyungthưnênnhómchấtnàytrừphenolvàdẫnxuấtđềucóhướngdẫnvềGHTĐCPchophéptrongnướcănuống.

Các thông số trong nhóm này có thể phát sinh từ ngành dược phẩm, dung môi sơn, dầu, chất diệt côn trùng

Nhómbenzenclohóa(3thôngsố Diclorobenzen, Monoclorobenzen, Triclorobenzen):Chúngxuấthiệntrongnguồnnướcdobayhơicủadungmôihoặcônhiễmdocôngnghiệphóachất, và phát sinh trong sản phẩm nhuộm, thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng, chất làm mát. GHTĐCPcácchấtnàyđều cóquyđịnhtheohướngdẫncủaWHO vàcác quy chuẩn của Việt Nam.

         Nhómcácchấthữucơphứctạp(3thôngsố Acrylamide, Epiclohydrin, Hexacloro butadien):Khảnănggâyônhiễmchonguồn nướctừquátrìnhxửlýnướcbằng hóachấtgồm(Acrylamidevàepiclohydrin), sản xuất xi măng.Bachỉsốcònlạinếucómặttrongnguồnnướclàdohoạtđộngcôngnghiệptácđộng(chếbiếnchấtdẻotổnghợpnhựanhưPVC) và hoạt động nông nghiệp do sử dụng thuốc diệt côn trùng, thuốc trừ sâu (Epiclohydrin, Hexacloro butadiene).

2.3.3. Nhómhóachấtbảovệthựcvật(24thôngsố 1,2-Dibromo-3Cloropropan; 1,2-Dicloropropan; 1,3-Dichloropropen; 2,4-D; 2,4-DB; Alachlor, Aldicarb, Carbofuran, Clodane, Clorotoluron, Cyanazine, DDT và các dẫn xuất, Dichloprop, Fenoprop, Hydroxyatrazine, Isoproturon, MCPA, Mecoprop, Methoxychlor, Molinate, Pendimetalin, Permethrin Mg/t, Propanil Uq/L, Simazine)

Nhómhóachấtbảovệthựcvật(HCBVTV)baogồmcácloạithuốctrừsâucơclovàcơphotpho.CácloạiHCBVTVnàydùngđểbảovệmùamàngbịthấmnhiễmvàođất,khôngkhí,cókhảnăngđivàonguồnnước,ảnhhưởngđếnchấtlượngnước.

HướngdẫncủaWHOđưaragiátrịhướngdẫnchungchotổngsốAldrinvàdieldrinlà0,03µg/Ldotrongmôitrườngvàcơthể,aldrinthườngđượcchuyểnhóangaythành Dieldrin.IARCphânloạiAldrinvàdieldrinthuộcnhóm3(notclassifiableastoitscarcinogennicitytohumans).TuycókhảnăngảnhhưởngsứckhỏevàđãbịcấmtạinhiềunướctrongđócóViệtnamnhưngAldrinvàdieldrincótínhlinhđộngthấptrongđấtnêntíchlũycaotrongđất.Rấthiếmkhipháthiệnthấy2chấtnàycótrongnướcsạchdùngănuống,nếucóthìthường<0,01µg/L.Trongnướcngầmhầunhưkhôngpháthiệnthấysựcómặtcủa2chấtnày.

Tươngtựnhưvậy,WHOđưaragiátrịhướngdẫnchoChlordanetrongnướcuốnglà0,2µg/L,tuynhiênChlordanecótínhbềnvữngtrongmôitrườngđấtvàdườngnhưkhông bịdichuyểntới môitrườngnước.TrongnướccáckếtquảcủanhiềunướcchothấyhàmlượngChlordanenếupháthiệnthấytrongnướcuốngvànướcngầmđều<0,1µg/L DDTvàdẫnxuấtcủaDDTcógiátrịhướngdẫncủaWHOtrongnướcuốnglà1µg/L,Cũngnhư5chấttrên,DDTcũngbềnvữngtrongmôitrườngđấtvàgâyảnhhưởngđếnsứckhỏethôngquađườngthứcăn(câytrồngtrênđấtbịnhiễmcácchấtnày),tuy nhiêntheosốliệutổnghợpcủaWHOthìhiệntạiDDTđượcpháthiệntrongnướcmặtvớihàmlượngxấpxỉ1µg/L,trongnướcuốngtạimộtsốnơivẫnpháthiệnthấy.

QuychuẩncũngđưathêmthôngsốChlorpyrifosthuộcnhómdiệtcôntrùng,vàCyanazinethuộcnhómdiệtcỏ. Chlorpyrifosdùngđể diệtmuỗi,ruồi,bọgậycũngnhưcácsâubọ kháctrongđất.mặcdùChlorpyrifoscũngrấtbềnvữngtrongđấtvàkhóảnhhưởngđếnnguồnnướcnếuchỉsửdụngchođấttuynhiêndosửdụngdiệtbọgậytrongnướcnênchấtnàycó khảnăngảnhhưởngtrựctiếpđếnnguồnnước.HướngdẫncủaWHOchoChlorpyrifostrongnướclà0,03mg/L.

Cyanazinelàchấtthườngđượcsửdụngđểdiệtcỏ,chấtnàybịphânhủynhanhtrongđấtvà nướcbởi các visinhvật. Hướngdẫncủa WHOcho Cyanazinetrongnướclà0,6µg/L

2.3.4. Nhómhóachấtkhửtrùngvàsảnphẩmphụ(10thôngsố 2,4,6-Triclorophenol;Bromat,Dibromoacetonitrile,Dichloroaceticacid,Dichloroacetonitrlle, Formaldehyde, Monochloramine, Monochloroaceticacid, Trichloroacetic acid)

Đểbảovệnguồnnướctừkhâusảnxuấtđếnnơitiêudùngkhỏisựxâmnhậpcủacácvisinhvật,cácnhàmáynướcphảikhửtrùngnguồnnước.Đaphầncácnướcnghèovàcácnướcđangpháttriểnđềusửdụngclođểdiệtkhuẩnvàyêucầubắtbuộcphảicó mộtlượngclo dưtrongnước khicấp nướcđếnhộgiađình. Dovậychỉtiêu clodưđượcgiámsátởdanhmụccácthôngsốbắtbuộcgiámsátđốivớicơsởcungcấpnướcsửdụngclolàmchấtkhửtrùng.

Khisửdụngclođểxửlý,cácsảnphẩm phụchínhlàTHMsvàHAAslànhữngsảnphẩmphụchính.KhixửlýbằngBromthìbromat,THMsvàHAAscũnglàsảnphẩmphụchính.Nếukiểmsoátđược3nhómchỉsốnàyTHMs,HAAs,bromatthìsẽkiểmsoátđượctoànbộquátrìnhkhửtrùngbằngclohoặcbromat,khôngnhấtthiếtphảikiểmsoáttấtcảcácsảnphẩmphụtrongquátrìnhkhửtrùng.

2.3.5.Nhómthôngsốnhiễmxạ( 2thôngsố Tổng hoạt độ phóng xạ α, Tổng hoạt độ phóng xạ β)

Mứcnhiễmxạtrongnguồnnướcxảyracảdobảnthânnộitạicủavùngđịachấtđịatầngcủatầngđấtchứanướcvàcũngcóthểdocảnhữngtácđộngônhiễmtừbênngoàiđặcbiệttừcáchoạtđộngcôngnghiệpsửdụngnguồnphóngxạhoặcdothiêntai,thảmhọa.

Trên cơ sở về đặc điểm địa hình địa chất thổ nhưỡng của tỉnh Hải Dương, đặc điểm về ngành nghề tại các khu công nghiệp, kết quả quan trắc định kỳ từ năm 2016-2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường nước thải phát sinh từ các khu công nghiệp các thông số nêu trên đều ở mức dưới giới hạn theo QCVN/40/2011/BTNMT. Thực trạng về  chất lượng nước sạch, kết quả giám sát chất lượng nước của các đơn vị cấp nước cũng như của ngành Y tế trên địa bàn tỉnh 3 năm gần đây, thực trạng các đơn vị cấp nước và quản lý chất lượng nước sạch thì các thông số nêu trên nhóm B và nhóm C của QCVN 01:2009/BYT và nhóm B QCVN 01-1:2018/BYT  chưa từng thấy xuất hiện trong các mẫu xét nghiệm vì vây chúng tôi không lựa chọn đưa vào trong quy chuẩn của địa phương. Hơn nữa các đơn vị cấp nước phải tiến hành thử nghiệm định kỳ 3 năm 1 lần, theo đúng quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt - QCVN 01-1:2018/BYT.

Ngoài ra, đơn vị cấp nước phải tiến hành thử nghiệm toàn bộ 99thông số chất lượng nước sạch của nhóm A và nhóm B trong các trường hợp sau đây:      Trước khi đi vào vận hành lần đầu; Sau khi nâng cấp, sửa chữa lớn có tác động đến hệ thống sản xuất; Khi có sự cố về môi trường có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng nước sạch; Khi xuất hiện rủi ro trong quá trình sản xuất có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng nước sạch hoặc khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; Định kỳ 03 năm một lần kể từ lần thử nghiệm toàn bộ các thông số.

PHẦN 3. KẾT LUẬN

Việc xây dựng Quy chuẩn địa phương về chất lượng nước sạch dùng cho mục đích sinh hoạtnhằm quy định mức giới hạn các thông số chất lượng đối với nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hải Dương là cấp thiết nhằm đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người dân.

Xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương đảm bảo theo Thông tư 41/2018/TT-BYT và chỉ đạo của Bộ Y tế, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, có tính khả thi cao. Việc áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về nước sạch trên địa bàn tỉnh Hải Dương vào trong thực tế sẽ làm giảm chi phí sản xuất nước, giảm chi phí giá thành nước sinh hoạt, góp phẩn giảm chi phí của xã hội nói chung.

Trên đây báo cáo kết quả lựa chọn các thông số chất lượng nước sạch xây dựng dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Sở Y tếkính tổng hợp và báo cáo./.

Tin khác

Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm với hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2015 (05/04/2021)

Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt tỉnh Hải Dương (03/12/2020)

góp ý kiến dự thảo xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương (03/12/2020)

Tập huấn về Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 (26/10/2020)

Quyết định số 2739/QĐ-TĐC về việc ban hành Văn bản Kỹ Thuật Đo lường Việt nam (10/01/2020)

TRUY XUẤT NGUỒN GỐC SẢN PHẨM (13/11/2019)

Thủ tục thay đổi, bổ sung phạm vi, lĩnh vực đánh giá sự phù hợpđược chỉ định (08/10/2019)

Thủ tục Miễn giảm kiểm tra chất lượng hàng hóa nhóm 2 nhập khẩu (08/10/2019)

Thủ tục cấp lại Giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm là các chất ôxy hóa, các hợp chất ô xít hữu cơ (thuộc loại 5) và các chất ăn mòn (thuộc loại 8) bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa (20/11/2018)

Thủ tục cấp bổ sung Giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm là các chất ôxy hóa, các hợp chất ô xít hữu cơ (thuộc loại 5) và các chất ăn mòn (thuộc loại 8) bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa (20/11/2018)

Thủ tục cấp mới Giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm là các chất ôxy hóa, các hợp chất ô xít hữu cơ (thuộc loại 5) và các chất ăn mòn (thuộc loại 8) bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa (20/11/2018)

Thủ tục kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 nhập khẩu (05/10/2018)

Thủ tục đăng ký tham dự sơ tuyển, xét tặng giải thưởng chất lượng quốc gia (05/10/2018)

Thủ tục cấp lại Quyết định chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp (05/10/2018)

Thủ tục thay đổi, bổ sung phạm vi, lĩnh vực đánh giá sự phù hợp được chỉ định (05/10/2018)

Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: Ths. Trần Anh Tuấn - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 01/GP-STTTT do Sở TT&TT cấp ngày 29/06/2015.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0220. 3892436 - Fax: 0220.3893912