Thông tin ứng dụng chuyển giao 0000-00-00 00:00:00

Tỉnh Hải Dương có diện tích đất tự nhiên 164.837 ha. Diện tích đất nông nghiệp khoảng 160.376 ha, trong đó diện tích trồng lúa năm 2016 là 120.350 ha (vụ xuân 60.730 ha, vụ mùa 59.610 ha). Năng suất lúa bình quân 1 vụ trong năm đạt 60,35 tạ/ha/vụ tăng 0,02 tạ/ha so với năm 2015, diện tích cấy lúa giảm 2.307 ha. Theo quy hoạch kinh tế xã hội diện tích đất canh tác của toàn tỉnh sẽ ổn định ở mức 60.000 - 63.000 ha, như vậy diện tích lúa toàn tỉnh tương đối lớn.

Trong năm 2018 UBND tỉnh đã giao choCông ty Cổ phần Giống cây trồng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩmnhằm mục đích liên kết các hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ với các doanh nghiệp để xây dựng tạo vùng sản xuất chuyên canh giống lúa chất lượng phục vụ xuất khẩu (giống lúa ĐS1) trong thời gian tới.Đề tài do tiến sỹ Trương Công Tuyện, giám đốc Công ty Cổ phần Giống cây trồng Viện Cây lương thực và Cây thực làm chủ nhiệm.Dự án đã xây dựng được 3 mô hình sản xuất giống lúa ĐS1 với quy mô 100 ha tại các huyện Thanh Miện, Bình Giang và Gia Lộc thuộc tỉnh Hải Dương

ĐS1 là giống lúa có thời gian sinh trưởng trung ngày, năng suất cao, chất lượng tốt, hiệu quả kinh tế cao. Nhu cầu tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao ở trong nước cũng như xuất khẩu ngày càng lớn. ĐS1 là sản phẩm có chất lượng gạo ngon, cơm mềm, dẻo, vị đậm, ngọt…Đặc biệt, giống lúa ĐS1 có khả năng chống chịu sâu, bệnh rất tốt, hạn chế dùng thuốc BVTV, tính thích ứng rộng nên phù hợp cho nhiều vụ, nhiều vùng sinh thái khác nhau.

Dự án đã mở 3 lớp tập huấn về kỹ thuật gieo mạ, cấy, chăm sóc, BVTV, thu hoạch... giống lúa ĐS1 đạt năng suất cao cũng như kỹ thuật gieo cấy, thâm canh tổng hợp cho giống lúa ĐS1 với 150 lượt hộ nông dân tham.

Giống lúa ĐS1 là giống trung ngày khoảng từ 130-137 ngày và dài hơn giống đối chứng của địa phương 5-10 ngày. Chiều cao cây đạt từ 100-105 cm, góc lá đứng, số dảnh hữu hiệu/khóm đạt từ 7-10 dảnh, hơn hằn giống KD18 và Bắc thơm 7 (5-6 dảnh/khóm). Giống lúa ĐS1 có khả năng chống chịu tốt với sâu, bệnh như bệnh đạo ôn, khô vằn, sâu cuốn là, đục thân và rầy nâu, trong khi đó giống đại trà KD18, Bắc thơm 7 chống chịu sâu bệnh kém hơn.

Đánh giá các chỉ tiêu chiều dài bông lúa, số bông/ m2, số hạt chắc/ bông, khối lượng 1000 hạt của giống lúa ĐS1 đều vượt trội hơn hẳn so với giống đại trà KD18 và Bắc thơn số 7, đặc biệt giống ĐS1 có tỷ lệ lép rất thấp và khối lượng hạt lớn. Số bông/m2 của giống ĐS1 trung bình đạt 296,5 bông/m2. Số hạt chắc/ bông đạt từ 151,8-155,2 hạt/ bông, giống địa phương là 150,4 hạt. Khối lượng 1000 hạt của giống lúa ĐS1 cũng thể hiện có khối lượng hạt rất lớn đạt 27,8 - 28,5 gram, cao hơn hẳn giống địa phương Bắc thơn số 7 (21,7 gram).

Giống lúa ĐS1 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, ít nhiễm sâu bệnh, các yếu tố cấu thành năng suất như chiều dài bông, số bông hữu hiệu/ m2, số bông/khóm, tỷ lệ hạt chắc và P.1000 hạt đều lớn, tiềm năng đạt năng suất cao so với giống đối chứng địa phương, cụ thể  giống lúa ĐS1 đều cho năng suất cao ở cả 3 mô hình, cụ thể tại xã Ngũ Hùng và xã Hùng Thắng dự kiến năng suất đạt 6,8 tấn/ha; thị trấn Gia Lộc đạt 7,2 tấn/ha, giống đối chứng của địa phương chỉ được 5,5 tấn/ha.

Giống lúa ĐS1 so với giống Khang dân 18 và Bắc thơm 7. Giống lúa ĐS1 sản xuất ra và được ký kết hợp đồng tiêu thụ thóc tươi với giá thành 6.500 đồng/kg, như vậy quy đổi về giá thóc khô (độ hao hụt 25%): 8.500 đồng/kg. Tổng chi phí và tổng thu nhập trên một vụ gieo cấy ĐS1 so với giống Bắc thơm 7, có thể thấy ĐS1 đã mang lại hiệu quả kinh tế khá cao. Tổng thu nhập trên một ha vượt giống đối chứng Bắc thơm 7 từ 13.800.000 đến 17.200.000 triệu đồng.

Hiệu quả kinh tế của mô hình cho năng suất giống lúa ĐS1 tham gia mô hình đều đạt năng suất vượt mục tiêu của dự án đề ra (Năng suất mô hình đạt 6,8 - 7,2 tấn/ha) đem lại thu nhập cho người nông dân tham gia dự án là rất lớn đạt từ 58 - 61 triệu đồng/ ha, giá trị hơn so với giống đang sản xuất đại trà từ 13 - 17 triệu đồng/ha.

Sản phẩm được doanh nghiệp ký kết hợp đồng thu mua toàn bộ thóc tươi ngay tại đầu bờ với giá bán là 6.500 đồng/kg thóc tươi (quy đổi giá thóc khô khoảng 8.500đ/kg), giảm chi phí công vận chuyển và phơi thóc của nông dân.

Hải Ninh

 

 

 

 

 

Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 01/GP-STTTT do Sở TT&TT cấp ngày 29/06/2015.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0220. 3892436 - Fax: 0220.3893912