Khoa học công nghệ 0000-00-00 00:00:00

Năm 2018, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học tỉnh Hải Dương chủ trì thực hiện đề tài "Sản xuất thử giống lúa CNC11 ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng  trên địa bàn tỉnh Hải Dương" với sự phối hợp hỗ trợ kỹ thuật của Trung tâm Thực nghiệm Sinh học Nông nghiệp Công nghệ cao - Viện Di truyền Nông nghiệp. Đề tài được triển khai thực hiện ở 02 huyện Tứ Kỳ và Ninh Giang. Dưới đây xin giới thiệu quy trình kỹ thuật thâm canh giống lúa CNC11.

1. Nguồn gốc

Giống CNC11 là giống lúa thuần do Trung tâm Thực nghiệm Sinh học Nông nghiệp Công nghệ cao – Viện Di Truyền Nông Nghiệp chọn tạo ra từ giống gốc BT7 bằng con đường gây đột biến thực nghiệm nhờ tia gamma (nguồn Co60 ). Giống được Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng Quốc gia đánh giá là giống lúa có triển vọng. Giống lúa CNC11 đã được Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận cho phép sản xuất thử tại các tỉnh phía Bắc theo Quyết định số 235/QĐ-TT-CLT, ngày 20/6/2016.

Hiện nay, giống lúa CNC11 đã được triển khai trồng ở nhiều địa phương như: Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hòa Bình, Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Thanh Hóa, …

2. Đặc điểm sinh học chính

 Giống CNC11 có thời gian sinh trưởng: vụ Xuân 122 - 125 ngày, vụ Mùa 102 - 105 ngày;

Khả năng đẻ nhánh trung bình, dạng hình cây đứng gọn, Chiều cao cây trung bình vụ Xuân là 95-100cm, vụ Mùa là 105-110cm,

Bông to, dài, hạt xếp sít, khối lượng 1000 hạt 22,5-23,0 gam, Năng suất 55 - 60 tạ/ha ở vụ Mùa, 60 – 65 tạ/ha  ở vụ Xuân,

Phẩm chất gạo trong, ít bạc bụng, chất lượng cơm mềm, dẻo, có mùi thơm,

Mức độ chống chịu  sâu, bệnh khá, nhất là bệnh đạo ôn, bạc lá. Giống có khả năng chịu rét, chống đổ khá, khả năng thâm canh cao, tính thích ứng rộng; thích hợp gieo cấy chân đất vàn, vàn cao, vàn trũng            

Giống lúa CNC11

3. Thời vụ, mật độ  và phân bón

3.1. Thời vụ:

Giống CNC11 có thể cấy cả 2 vụ Xuân và Mùa. Thời gian cấy áp dụng theo lịch thời vụ của từng địa phương.

Ví dụ: Vùng đồng bằng sông Hồng

Vụ xuân:

•Xuân sớm: Gieo mạ 15- 25/11; cấy: 15 - 25/ 1

•Xuân chính vụ: Gieo mạ 1/12- 20/12; cấy: 20/1- 20/ 2

•Xuân muộn: gieo 5/2- 25/2

•Gieo mạ trên nền đất cứng ở vụ xuân muộn: Gieo mạ 25/1- 10/2; cấy từ 10/2 trở đi. Tuổi mạ từ 10- 15 ngày, tương ứng 3- 4 lá.

Vụ mùa:

•Mùa sớm: gieo 10/6 - 20/6

•Mùa trung: gieo 15/6 - 25/6

•Mùa muộn: Gieo mạ 25/ - 5/ 6; cấy: 25/6 - 5/7

3.2. Lượng giống: 1,2 - 2,0 kg/sào.

3.3. Lượng phân bón (tính cho 1 sào Bắc Bộ, 360 m2): Để đạt năng suất cao cần bón phân cân đối NPK, bón đúng thời kỳ và đúng liều lượng. Tùy theo loại đất và mùa vụ điều chỉnh lượng phân bón cho phù hợp.

+ Phân chuồng: 200 - 400 kg hoặc phân vi sinh: 50 - 70 kg

+ Đạm Urê: 6 - 8 kg

+ Supe Lân: 18 - 20 kg

+ Kali Clorua: 8 - 10 kg

+ Nếu đất chua cần bón thêm 200 - 270kg vôi bột.

- Cách bón phân:

+ Bón lót: Toàn bộ phân chuồng (hoặc phân vi sinh) + 40% Đạm + 100% Lân + 30% Kali.   

+ Bón thúc lần 1 (khi lúa bén rễ hồi xanh): 50% Đạm + 30% Kali.

+ Bón thúc lần 2 (bón đón đòng): 10% đạm + 40% Kali.

4. Kỹ thuật gieo trồng:

4.1. Chuẩn bị giống

-  Phơi lại hạt giống: Hạt giống cần phơi lại 6- 8 giờ trong nắng nhẹ (không phơi trực tiếp trên sân gạch hay sân xi măng). Phơi lại có tác dụng làm cho hạt hút nước nhanh, xúc tiến hoạt động của hệ thống men, tăng khả năng nảy mầm.

-  Chọn hạt tốt, loại bỏ hạt lép lửng bằng nhiều cách: Bằng quạt gió, sàng sảy hoặc trong quá trình ngâm nước cần vớt hết những hạt nổi và giữ lại hạt chìm (hạt tốt).

*Đối với hạt giống mới thu hoạch muốn gieo ngay cần áp dụng phương pháp xử lý phá ngủ để tăng độ nảy mầm. Dùng a xít nitric 0,2% (lượng dùng 100 ml dung dịch cho 1,2- 1,4 tạ hạt giống) để xử lý phá ngủ hoặc dùng supe lân để thay thế.

4.2. Ngâm ủ hạt giống

- Ngâm hạt: Để hạt nảy mầm cần phải ngâm hạt hút no nước. Thời gian ngâm tùy thuộc nhiệt độ, 1-2 ngày ở vụ mùa, 2-3 ngày ở vụ đông xuân. Trong quá trình ngâm, hạt hô hấp yếm khí, thiếu oxy làm nước chua, cần phải thay nước mỗi ngày hai lần.

- Ủ thúc mầm: Sau khi hạt đã hút đủ nước, đem ủ, để hạt nảy mầm. Trong quá trình ủ, nên định kỳ tưới nước và trộn đảo hạt để hạt nẩy mầm đều.

- Khi hạt đã nhú mầm, nên xen kẽ “ngày ngâm đêm ủ” để phát triển cân đối mầm và rễ. Vụ mùa, hè thu chỉ cần ủ nứt nanh, vụ đông xuân cần có mầm dài hơn.

4.3. Kỹ thuật làm mạ

Tùy điều kiện đất đai và thời tiết, có thể làm mạ bằng nhiều phương pháp khác nhau:

4.3.1. Mạ dược:

Là hình thức phổ biến nhất. Ruộng mạ được giữ nước, làm đất kỹ, trang phẳng rồi lên luống, gieo hạt đã nảy mầm, giữ ẩm thời kỳ đầu sau đó mới tưới nước cho đến lúc cấy.

4.3.2. Mạ sân (mạ nền):

Những năm rét nhiều ở vụ xuân, mạ dược thường chết gây thiếu mạ, phải khắc phục bằng làm mạ sân (Thường là vụ xuân muộn). Phương pháp này bằng trước khi gieo mầm, rải một lớp bùn mỏng lên sân hay lên nền đất cứng ở bờ mương, ven đường. Nếu đất xấu có thể trộn thêm phân chuồng mục đã ủ với lân. Gieo hạt đã xử lí, ngâm ủ. Mật độ gieo từ 1,0-1,5 kg/m2. Tưới giữ ẩm, che nilon tránh gió lạnh. Khi mạ 2,5-3 lá là cấy được. Khi lấy mạ bứng cả mảng. Khi cấy tách thành các khóm nhỏ. Mạ sân bén rễ nhanh, không bị chột cây như mạ dược.

4.4. Chăm sóc quản lý ruộng mạ

4.4.1. Chăm sóc mạ dược:

Nước: Ở thời kỳ mạ non (từ gieo đến 3 lá), mặt luống cần được giữ ẩm để rễ phát triển thuận lợi. Khi mạ có 4 lá đến nhổ cấy tùy theo thời tiết và sinh trưởng của mạ để quyết định chế độ tưới nước. Khi cần chỉ tưới nước vào rãnh để luống mạ đủ ẩm. Trước khi nhổ có thể tưới trước 5-7 ngày cho đất mềm, dễ nhổ, tránh đứt rễ.

Phân bón: Bón thúc vào thời kỳ mạ 3-4 lá, Lượng bón từ 0,5- 1,0 kg Urê/ sào Bắc bộ tùy theo giống và độ phì đất. Trước khi nhổ cấy 3-5 ngày, có thể bón tiễn chân giúp cây mạ ra rễ mới. Mạ tốt, mạ già không nên bón thúc nhiều.

Phòng chống rét: Dùng các giống chịu rét. Gieo đúng thời vụ, gieo vào lúc trời ấm, gieo mật độ dày, tăng phân chuồng và lân, không bón đạm vào lúc trời rét, điều tiết nước và che phủ Nilon cho mạ trong những đợt rét.

Phòng chống sâu bệnh cho mạ: Tiến hành phòng trừ khi sâu bệnh phát sinh rộ. Tiêu chuẩn mạ tốt: Mạ cứng cây, khỏe, tỉ lệ bẹ/lá cao, đanh dảnh, màu sắc lá xanh vàng, tỉ lệ C/N thích hợp, mạ không bị ống, có sức ra rễ mạnh và không có sâu bệnh.

Đúng tuổi: Tuổi mạ cấy tùy thuộc vào giống, thời vụ và phương pháp làm mạ. Để tính tuổi mạ có thể dùng ngày tuổi hoặc số lá. Thí dụ, ở vụ mùa tính tuổi mạ theo ngày tuổi, còn ở vụ đông xuân theo số lá (mạ dược 5-6 lá, mạ sân hoặc mạ trên nền đất cứng 2-3 lá).

4.4.2. Chăm sóc mạ sân:

Đối với mạ sân, sau khi gieo hạt cần đặc biệt điều tiết nước và giữ ẩm cho mạ. Số lần tưới nước phụ thuộc vào nhiệt độ và cường độ ánh sáng trong ngày. Ở vụ mùa số lần tước nước đòi hỏi nhiều hơn ở vụ xuân, đặc biệt vào những ngày nắng nhiều và nhiệt độ cao. Khi đó, cứ 20- 30 phút cần tưới nước một lần để giữ ẩm. Khi mạ có 2,5 - 3 lá là đủ tuổi để nhổ cấy.

4.5. Kỹ thuật làm đất

Đất lúa cần phải cày sớm, ruộng làm dầm phải giữ nước. Ruộng làm ải cần được phơi kỹ, giữa đợt cày đảo ải. Làm ải có tác dụng cho đất thoáng, tiêu diệt được một số loại dịch hại trong đất. Nếu phơi ải gặp mưa lớn không có khả năng phơi lại thì phải giữ nước, chuyển sang làm dầm.

Làm đất lúa phải cày sâu, bừa kỹ cho đất nhuyễn, mặt ruộng phải phẳng thuận lợi cho khi cấy đồng đều và điều tiết nước.

Yêu cầu đất lúa trước khi cấy phải sạch gốc rạ, cỏ dại. đất lúa cấy mạ sân càng phải được làm kỹ hơn, mặt ruộng phẳng hơn và để mức nước nông để lúa cấy xong phát triển thuận lợi.

Bón lót

Trong quá trình làm đất sẽ kết hợp với bón lót. Bón lót phân chuồng, phân xanh, vôi và các loạ phân vô cơ như lân, kali, đạm…Bón lót sâu và hợp lí:

Bón lót phân xanh vào lúc cày ngả, phân chuồng và phân lân bón vào lúc cày lại, đạm và kali bón trước khi bừa cấy.

Vụ chiêm xuân nhiệt độ đầu vụ thấp cần quan tâm bón lót nhiều hơn vụ mùa.

4.6. Kỹ thuật cấy

Cấy thẳng hàng, cấy nông 3-4 cm (cấy sâu 5-6cm lúa sẽ phát sinh 2 tầng rễ), ở vụ chiêm xuân cấy sâu hơn vụ mùa.

            Để cấy nông, cần làm đất kỹ, giữ nước nông, cấy ngửa tay. Cấy thẳng hàng dễ kiểm tra, bảo đảm mật độ và tạo điều kiện thuận lợi cho khâu chăm sóc sau này.

4.7. Kỹ thuật chăm sóc ruộng cấy

Làm cỏ

Khi cây lúa bén rễ hồi xanh thì bắt đầu làm cỏ. Làm cỏ bằng tay, cào răng đẩy tay. (Cũng có thể dùng thuốc trừ cỏ).

Trừ rong rêu: Những ruộng lúa có nhiều rong rêu thì nên trừ bằng cách tháo cạn nước 5-6 ngày kết hợp bón vôi bột (5-10 kg/ha), hoặc phun CuSO4 5-10% vào ngày nắng từ 1-2 lần, mỗi lần cách nhau 2-3 ngày, hoặc dùng MCPA dung dịch 0,4% phun 500 lít/ ha.

Bón thúc

•Bón thúc đẻ nhánh: Khi lúa bén rễ hồi xanh kết hợp với làm cỏ đợt I, bón 50 -60 % lượng đạm.

•Bón đón đòng: Trước trỗ 30 -35 ngày. Bón đón đòng có tác dụng xúc tiến phân hóa gié và hoa nhằm đạt số hạt /bông cao.

Để tăng hiệu quả của phân bón thúc nên bón sâu theo cách kết hợp với làm cỏ sục bùn, giữ nước vừa phải, không bón khi thời tiết xấu . . .có thể dùng phân viên tổng hợp bón tập trung vào gốc sẽ nâng cao hiệu quả của phân.

Tưới nước

Tuỳ điều kiện cụ thể mà có thể đảm bảo chế độ nước phổ biến như sau: duy trì mức nước < 5 cm vào thời kỳ sau cấy đến thời kỳ đẻ nhánh hữu hiệu, > 20cm vào thời kỳ cuối đẻ nhánh để hạn chế đẻ nhánh vô hiệu. Nếu lúa tốt, sinh trưởng mạnh thì nên rút nước phơi ruộng, hạn chế dinh dưỡng cũng có tác dụng làm giảm đẻ nhánh vô hiệu. Duy trì 5-10 cm nước vào thời kỳ làm đòng đến chín sữa. Sau thời kỳ chín sữa có thể rút nước, lúa tiếp tục vào chắc, thuận lợi cho khâu thu hoạch.

Trường hợp lúa trên đất chua, mặn, phèn, phải duy trì mực nước 5-6 cm để hạn chế phèn, mặn.

5. Phòng trừ sâu bệnh

Thăm đồng thường xuyên để theo dõi tình hình sâu bệnh và phòng trừ kịp thời sớm có hiệu quả.

- Với các loại sâu cuốn lá, sâu đục thân các loại thuốc Karate 2.5 EC, Regent 800WG, Thianmectin 0.50 ME, Padan 95SP, Proclaim 1.9EC…

- Với cỏ dại: Sofit…

- Rầy nâu, chích hút thường dùng thuốc Actara 25WG…

- Đạo ôn dùng các loại thuốc Filia 525 SE, Fujione 40EC...

- Bệnh khô vằn dùng Validacin 5SC, Anvil 5SC…

6. Thu hoạch và bảo quản

6.1. Thu hoạch lúa

CNC11 là giống lúa có độ chắc cao, thời gian trỗ - chín nhanh. Vì vậy, thời điểm thu hoạch nên sớm hơn.

Không nên để lúa chín hoàn toàn khi gặp phải mưa bão.

6.2. Phơi sấy, cất trữ bảo quản

Phơi sấy: yêu cầu phơi khô để hạt có hàm lượng nước đạt < 13%, cũng như không cho mầm bệnh phát triển và hoạt động. Có thể sử dụng 2 phương pháp phơi sấy chủ yếu sau:

• Phơi bằng ánh sáng mặt trời: hạt lúa nói chung có thể được phơi bằng ánh sáng tự nhiên, độ dầy 3-7 cm, thường xuyên đảo hạt để hạt khô đều, tránh cường độ ánh sáng mạnh.

• Phương pháp làm khô bằng hệ thống quạt không khí nóng: Hạt lúa có thể làm khô băng hệ thống sấy có thổi không khí nóng với nhiệt độ 40 – 450C, thời gian sấy tùy thuộc vào ẩm độ hạt khi thu hoạch, nhiệt lượng cung cấp, cũng như khối lượng hạt cần xử lý.

Cất trữ bảo quản: Sau khi lúa đã phơi khô, quạt sạch trấu, hạt lép, đóng vào bao để bảo quản trong kho chuyên dụng. Kho bảo quản phải được khử trùng, dọn sạch trước khi cất trữ. Ở các hộ gia đình nên cho thóc vào bồ, thùng phi hoặc thùng tôn đặt ở nơi khô ráo, thoáng mát. Thường xuyên kiểm tra ẩm mốc, mọt và chuột. Nếu bị dịch hại và ẩm mốc cần phải xử lí ngay.

Vũ Văn Tân

Trung Tâm UDTB Khoa Học

Tin khác

Công nghệ biến rơm thành xăng máy bay đến Việt Nam (04/06/2018)

Nghiệm thu đề tài xây dựng mô hình trình diễn giống vịt Đại Xuyên PT và giống ngan VS152 (28/05/2018)

Làm giàu từ trồng khoai lấy bồng (28/05/2018)

Đẩy mạnh các giải pháp tiêu thụ vải thiều Thanh Hà (28/05/2018)

Nông dân trẻ làm vườn từ xa bằng điện thoại thông minh (24/05/2018)

Tháo gỡ vướng mắc trong đăng ký, nghiệm thu các đề tài khoa học (24/05/2018)

Đón nhận Huân chương độc lập hạng Ba nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Sở Khoa học và Công nghệ (23/05/2018)

Một số hình ảnh lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương (1968 - 2018) (21/05/2018)

Nghiệm thu đề tài nghiên cứu bảo tồn nguồn lợi Rươi (14/05/2018)

Trồng cây chanh vàng Mỹ và cách xử lý ra hoa đậu trái sai trĩu cành (10/05/2018)

Tuyển chọn thực hiện 02 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia (10/05/2018)

Các giải pháp chăm sóc vải thiều VietGAP, GlobalGAP phục vụ xuất khẩu năm 2018 (08/05/2018)

Kết quả nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của cao khô thân cây chuối tiêu (08/05/2018)

Nghiên cứu chế tạo máy sấy lạnh phục vụ sấy thóc giống trên địa bàn tỉnh Hải Dương (04/05/2018)

Ứng dụng độc đáo cho người hay quên, vỗ tay là tìm thấy điện thoại (02/05/2018)

Tin khác

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH HẢI DƯƠNG

Trưởng Ban biên tập: ThS. Phạm Văn Bình - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Giấy phép số: 01/GP-STTTT do Sở TT&TT cấp ngày 29/06/2015.

Địa chỉ: Số 209 Nguyễn Lương Bằng - TP. Hải Dương - tỉnh Hải Dương.

Website Sử dụng Portal mã nguồn mở Joomla, theo luật GNU/GPL.

Điện thoại: 0220. 3892436 - Fax: 0220.3893912